Hội chứng Buồng trứng Đa nang: Từ Cơ sở Khoa học đến Các Tiến bộ Lâm sàng trong Suốt Cuộc đời | Polycystic Ovary Syndrome – Basic Science to Clinical Advances Across the Lifespan.
Biên tập: Rehana Rehman and Aisha Sheikh | (C) 2025 Nhà xuất bản Elsevier.
Dịch và Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Ts.Bs. Ngô Đức Kỷ
CHƯƠNG 19. QUẢN LÝ VÔ SINH TRONG HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG
SUMAIRA NAZ VÀ AZRA AMERJEE
Giới Thiệu
Hội chứng buồng trứng đa nang (Polycystic ovary syndrome – PCOS) là rối loạn nội tiết phổ biến nhất, gây ảnh hưởng đến khoảng 20% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Hội chứng này có biểu hiện lâm sàng rất không đồng nhất, với tình trạng cường androgen lâm sàng hoặc sinh hoá (hyperandrogenism – HA), rối loạn chức năng rụng trứng và hình thái buồng trứng đa nang (polycystic ovarian morphology – PCOM) trên siêu âm (Bảng 19.1).
PCOS là một rối loạn đa yếu tố với sự tham gia của nhiều cơ chế phức tạp, bao gồm di truyền, nội tiết tố, thần kinh nội tiết và các yếu tố môi trường. Tăng insulin máu (Hyperinsulinemia) là dấu hiệu đặc trưng của PCOS và có liên hệ mật thiết đến tình trạng kháng insulin (insulin resistance – IR), tình trạng tăng nội tiết tố nam (androgen) và tăng tiết hormone tạo hoàng thể (luteinizing hormone – LH), qua đó góp phần gây ra các tác động bất lợi về nội tiết, chuyển hóa và sinh sản của hội chứng này. PCOS thuộc phân nhóm không rụng trứng độ II theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bao gồm nhóm suy sinh dục có nồng độ gonadotropin bình thường (normogonadotrophic hypogonadism). Dựa trên các tiêu chuẩn của Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) năm 2012, tình trạng rối loạn chức năng rụng trứng được quan sát thấy ở các kiểu hình PCOS A, B và D (Bảng 19.2).
Những phụ nữ mắc hội chứng này thường có biểu hiện kinh nguyệt không đều, dao động từ thiểu kinh (oligomenorrhea) cho đến vô kinh (amenorrhea) và vô sinh. Mặc dù không phải tất cả bệnh nhân mắc PCOS đều gặp khó khăn trong việc mang thai, tình trạng vô sinh/hiếm muộn vẫn xuất hiện phổ biến ở khoảng 75% đến 80% bệnh nhân do hậu quả của việc không rụng trứng.
Bảng 19.1 Các Tiêu Chuẩn Chẩn Đoán Hội Chứng Buồng Trứng Đa Nang
| Tiêu chuẩn | Mô tả |
| Dư thừa Androgen | Cường androgen lâm sàng và/hoặc sinh hóa (Clinical &/or biochemical hyperandrogenism)
• Như chứng rậm lông (hirsutism). • Cường androgen máu như tăng nồng độ testosterone toàn phần hoặc tự do. |
| Rối loạn chức năng buồng trứng | Thiểu kinh/không rụng trứng và/hoặc hình thái buồng trứng đa nang (polycystic ovarian morphology)
• Được định nghĩa bởi số lượng nang noãn có kích thước trung bình (> 8-12 nang noãn có đường kính từ 2-9 mm) và/hoặc tăng thể tích buồng trứng (ví dụ: 10 mL). • Có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt không đều (chu kỳ cách nhau > 35 ngày hoặc thời gian ngắn < 21 ngày). |
| Loại trừ | Các nguyên nhân khác gây dư thừa Androgen hoặc các rối loạn rụng trứng khác
• Bao gồm, nhưng không giới hạn ở bệnh lý thiếu hụt men 21-Hydroxylase, tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh thể không cổ điển, rối loạn chức năng tuyến giáp, tăng prolactin máu, hội chứng tiết androgen do khối u, hoặc dư thừa androgen do sử dụng thuốc. |
Điều chỉnh từ Azziz R. Diagnostic criteria for polycystic ovary syndrome: A reappraisal. Fertil Steril. 2005;83(5):1343-1346.
Bảng 19.2 Tiêu Chuẩn Của Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ 2012 Phân Loại Hội Chứng Buồng Trứng Đa Nang Thành Bốn Kiểu Hình
| 1 Cường androgen + rối loạn chức năng rụng trứng + hình thái buồng trứng đa nang (PCOM) — Kiểu hình A |
| 2 Cường androgen + rối loạn chức năng rụng trứng — Kiểu hình B |
| 3 Cường androgen + PCOM — Kiểu hình C |
| 4 Rối loạn chức năng rụng trứng + PCOM — Kiểu hình D |
Các Nguyên Lý Sinh Lý Của Kích Thích Buồng Trứng Bằng Gonadotrophin
Khi mới sinh, mỗi buồng trứng của bé gái chứa khoảng 1 đến 2 triệu nang noãn nguyên thủy (primordial follicles). Số lượng này suy giảm dần và chỉ còn khoảng 300.000 nang noãn vào thời điểm bắt đầu dậy thì. Dưới tác động của một tác nhân kích thích hiện chưa được làm rõ, những nang noãn nguyên thủy này tiến triển thành nang noãn sơ cấp, nang noãn thứ cấp và sau đó hình thành các nang có hốc nhỏ (small antral follicles). Quá trình phát triển ban đầu này (không phụ thuộc vào sự đáp ứng gonadotrophin) kéo dài khoảng 70 đến 80 ngày. Trong giai đoạn này, các nang noãn nhỏ có đường kính từ 2 đến 5 mm bắt đầu trở nên nhạy cảm với nồng độ gonadotrophin thấp. Một khi các nang noãn phát triển đạt đến giai đoạn có hốc, chúng sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào hormone kích thích nang trứng (follicle-stimulating hormone – FSH) và đủ điều kiện để bước vào quá trình chiêu mộ theo chu kỳ (phụ thuộc gonadotrophin). Bước vào tuổi dậy thì, sự trưởng thành của hệ thống hạ đồi-tuyến yên kích thích sự bài tiết FSH đạt đến mức đủ để kích hoạt các chu kỳ rụng trứng. Sự phát triển của nang noãn từ giai đoạn nang có hốc nhỏ đến giai đoạn nang tiền rụng trứng đòi hỏi tác động hiệp đồng của cả hai loại gonadotrophin (tức là FSH và LH). Trong nửa đầu của giai đoạn nang noãn, FSH đóng vai trò chủ đạo, trong khi LH dẫn dắt các chuỗi sự kiện diễn ra ở nửa sau của giai đoạn này. Về mặt sinh lý, LH tác động lên các tế bào vỏ buồng trứng (theca cells) và kích hoạt thụ thể LH nhằm thúc đẩy quá trình sản xuất androgen; song song đó, FSH tác động lên các tế bào hạt buồng trứng (granulosa cells) để biến đổi androgen thành estrogen (Hình 19.1).

Hình 19.1 Trục Hạ Đồi Tuyến Yên, Khái Niệm Hai Tế Bào-Hai Gonadotrophin Và Sự Tương Tác Nội Tiết Tố. FSH, Hormone kích thích nang trứng; GnRH, hormone giải phóng gonadotrophin; LH, hormone tạo hoàng thể.
Khái Niệm Ngưỡng/Cửa Sổ Hormone Kích Thích Nang Trứng
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ