Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Hội chứng Buồng trứng Đa nang. CHƯƠNG 28. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH, NIỀM TIN VĂN HÓA, LỐI SỐNG VÀ TÁC ĐỘNG TÂM LÝ CỦA HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG TẠI CHÂU ÂU

18 phút đọc

Hội chứng Buồng trứng Đa nang: Từ Cơ sở Khoa học đến Các Tiến bộ Lâm sàng trong Suốt Cuộc đời | Polycystic Ovary Syndrome – Basic Science to Clinical Advances Across the Lifespan.
Biên tập: Rehana Rehman and Aisha Sheikh | (C) 2025 Nhà xuất bản Elsevier.
Dịch và Chú giải:
Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Ts.Bs. Ngô Đức Kỷ


CHƯƠNG 28. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH, NIỀM TIN VĂN HÓA, LỐI SỐNG VÀ TÁC ĐỘNG TÂM LÝ CỦA HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG TẠI CHÂU ÂU

HAFIZ SOHAIL KAMRAN VÀ TAMAR SAEED


Bối Cảnh

Tỷ lệ hiện mắc (prevalence) của hội chứng buồng trứng đa nang (polycystic ovary syndrome – PCOS) là từ 5% đến 10% ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (childbearing age). Dấu hiệu nhận biết đặc trưng của PCOS là tình trạng không rụng trứng kéo dài (long-term anovulation), cuối cùng dẫn đến các vấn đề về kinh nguyệt và tỷ lệ vô sinh (infertility) cao hơn. Hội chứng này cũng có thể biểu hiện dưới dạng rậm lông mặt (excessive facial hair) và mụn trứng cá (pimples).

Một số bất thường về nội tiết (endocrine abnormalities) dưới dạng nồng độ insulin, glucose huyết thanh, mô hình đánh giá cân bằng nội môi của tình trạng đề kháng insulin (homeostatic model assessment of insulin resistance – IR), chỉ số khối cơ thể (body mass index – BMI) cao, cùng với huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương (systolic and diastolic blood pressures – SBP và DBP) cao đã được báo cáo ở các bệnh nhân mắc PCOS. Các bác sĩ đã ghi nhận những khác biệt đáng chú ý ở các bệnh nhân từ các sắc tộc và nguồn gốc khác nhau. Sự phân bố của PCOS thay đổi theo địa lý, sắc tộc và chủng tộc. Các nghiên cứu phủ nhận tác động sâu sắc của cấu trúc kiểu gen (genotypic buildup) với tư cách là yếu tố duy nhất đóng góp vào số lượng/biểu hiện của các bệnh nhân mắc PCOS. Đó là lý do tại sao các yếu tố môi trường (environmental factors) được coi là những yếu tố chính khác đóng vai trò quan trọng trong biểu hiện/số lượng bệnh nhân mắc PCOS. Khi nghiên cứu đưa ra ngày càng nhiều bằng chứng về vai trò của các yếu tố môi trường đối với sự biến thiên trong biểu hiện bệnh, về tác động của những thay đổi trong lối sống, về những biến thiên đáng chú ý ở những người có nguồn gốc khác nhau, và về tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức cho các nhóm cá nhân có nguy cơ cao hơn, điều này sẽ dẫn đến các phương pháp điều trị vượt trội đối với tình trạng rối loạn chức năng chuyển hóa và sinh sản (metabolic and fertility dysfunction).

Tình Hình Tại Châu Âu

Tỷ lệ mắc PCOS thay đổi ở các khu vực khác nhau tại Châu Âu, điều này gợi ý mạnh mẽ về mối liên quan giữa các yếu tố môi trường/di truyền và PCOS.

Một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2016 đã cho thấy số ca mắc PCOS cao nhất ở Cộng hòa Séc và thấp nhất ở Thụy Điển. Ngoài ra, nghiên cứu cũng tiết lộ rằng tuổi tác đóng một vai trò quan trọng trong sự phân bố của PCOS vì số lượng bệnh nhân cao hơn ở một số nhóm tuổi nhất định. Nhìn chung, trên cả ba khu vực của Châu Âu, các con số cho thấy sự gia tăng dần theo độ tuổi với tỷ lệ cao nhất ở phụ nữ từ 35 đến 39 tuổi và 40 đến 44 tuổi; xu hướng này gần như không thay đổi ở Đông Âu (Eastern Europe – EE) và Trung Âu (Central Europe – CE) từ độ tuổi 20 trở lên. Trên thực tế, ở nhóm tuổi trẻ nhất (15-19 tuổi), rất ít phụ nữ phát triển tình trạng này. Ở nhóm tuổi này, trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2016, số ca hiện mắc PCOS đã tăng ở Đông Âu thêm 0,73% (khoảng bất định 95% [uncertainty interval – UI]: từ -0,18 đến 1,83) và Trung Âu thêm 1,87% (UI 95%: 0,42-3,68), trong khi đó tỷ lệ này giảm ở Tây Âu (Western Europe – WE; giảm 1,30%; UI 95%: từ 4,65-2,64) (Bảng 28.1).

Bảng 28.1 Số Lượng Và Xu Hướng Của Hội Chứng Buồng Trứng Đa Nang Năm 2016 Tại Các Quốc Gia Và Khu Vực Châu Âu Ở Phụ Nữ Từ 15 Đến 49 Tuổi

Quốc gia Số ca hiện mắc trên 100.000 dân Giới hạn dưới Giới hạn trên Phần trăm tổng số ca hiện mắc Giới hạn dưới Giới hạn trên
Albania 373,94 280,2 498,4 0,38 0,29 0,51
Andorra 119,88 90,26 158,8 0,12 0,09 0,16
Áo 211,74 167,5 266,2 0,22 0,17 0,27
Belarus 430,98 325,2 561,7 0,44 0,33 0,58
Bỉ 131,70 95,97 172,5 0,13 0,10 0,18
Bosnia và Herzegovina 420,45 315,8 553,1 0,43 0,32 0,56
Bulgaria 435,76 329,3 571,4 0,44 0,37 0,58
Croatia 415,90 312,2 546,1 0,43 0,32 0,56
Cộng hòa Séc 460,60 346,2 602,1 0,47 0,35 0,62
Đan Mạch 117,43 88,24 157,5 0,12 0,09 0,16
Estonia 432,44 326,2 567,4 0,44 0,34 0,56
Phần Lan 121,62 91,37 162,2 0,12 0,09 0,17
Pháp 120,68 90,61 160,1 0,12 0,09 0,16
Đức 114,96 87,70 147,7 0,12 0,84 0,15
Hy Lạp 136,07 100,1 177,9 0,14 0,10 0,18
Hungary 428,72 322,5 561,4 0,44 0,30 0,57
Iceland 120,65 90,51 161,6 0,12 0,09 0,16
Ireland 127,61 98,13 168,0 0,13 0,10 0,17
Ý 138,11 106,8 178,9 0,14 0,11 0,18
Kazakhstan 417,23 311,2 546,9 0,42 0,31 0,53
Latvia 427,92 321,8 563,2 0,41 0,31 0,54
Lithuania 406,38 304,8 535,4 0,41 0,31 0,54
Luxembourg 123,65 92,91 163,8 0,12 0,09 0,17
Bắc Macedonia 411,45 309,4 543,2 0,42 0,32 0,56
Malta 123,51 92,99 164,1 0,13 0,09 0,17
Moldova 435,78 325,8 578,6 0,44 0,33 0,59
Montenegro 410,91 309,2 542,4 0,42 0,32 0,56
Hà Lan 117,50 88,29 156,3 0,12 0,09 0,16
Na Uy 106,55 80,62 137,9 0,11 0,08 0,14
Ba Lan 447,22 336,3 588,9 0,46 0,34 0,6
Bồ Đào Nha 126,00 94,98 165,7 0,13 0,10 0,17
Romania 409,06 307,1 534,8 0,42 0,31 0,55
Nga 443,14 333,9 583,2 0,45 0,34 0,59
Serbia 409,00 308,6 536,5 0,42 0,32 0,55
Slovakia 437,15 328,6 573,7 0,45 0,34 0,59
Slovenia 402,66 302,6 528,0 0,41 0,31 0,54
Tây Ban Nha 132,35 97,34 178,6 0,13 0,10 0,18
Thụy Điển 34,10 24,59 45,77 0,04 0,03 0,05
Thụy Sĩ 121,31 91,03 160,7 0,12 0,09 0,16
Thổ Nhĩ Kỳ 258,52 195,3 333,2 0,26 0,20 0,34
Ukraine 428,91 321,5 565,7 0,44 0,33 0,57
Vương quốc Anh 117,40 87,36 155,3 0,12 0,09 0,16
Tất cả các quốc gia 276,35 207,8 363,2 0,28 0,23 0,37
Tây Âu 123,42 93,04 162,3 0,13 0,13 0,17
Trung Âu 408,68 307,4 536,7 0,42 0,32 0,55
Đông Âu 427,79 321,3 562,8 0,43 0,33 0,56

Nguồn: Miazgowski, et al. (2021). National and regional trends in the prevalence of polycystic ovary syndrome since 1990 within Europe: the modeled estimates from the Global Burden of Disease Study 2016. Arch Med Sci, 17 (2): 343-351.

Niềm Tin Văn Hóa Và Hàm Ý Về Lối Sống Ở Các Bệnh Nhân Mắc Hội Chứng Buồng Trứng Đa Nang

Dữ liệu đã xác nhận mối liên hệ giữa các yếu tố môi trường và di truyền liên quan đến PCOS. Một trong những yếu tố môi trường then chốt được xác định là tác nhân chính góp phần gây ra PCOS là tình trạng kinh tế xã hội thấp (low socioeconomic status); những người có nền tảng như vậy không có đủ kiến thức, dẫn đến việc ít áp dụng các lối sống lành mạnh và biểu hiện dưới dạng tăng cân, rối loạn nồng độ hormone, và tăng tính nhạy cảm với PCOS.

Tình trạng kinh tế xã hội thấp có thể đồng nghĩa với việc những người này ít được tiếp cận với các cơ sở chăm sóc sức khỏe cũng như có ít nhận thức và kiến thức về PCOS hơn, từ đó làm tăng gánh nặng của PCOS trong cộng đồng. Việc quản lý những bệnh nhân như vậy luôn là một thách thức vì việc điều trị PCOS đòi hỏi một phương pháp tiếp cận đa chuyên khoa (multidisciplinary approach). Các nghiên cứu cho thấy ngay từ đầu, trẻ sơ sinh của các bà mẹ có nền tảng kinh tế xã hội thấp thường nhỏ hơn so với tuổi thai (small for gestational age) do dinh dưỡng kém và không ăn uống đúng loại thực phẩm trong thai kỳ, điều này đã được xác lập là một yếu tố then chốt góp phần gây ra PCOS trong giai đoạn sau của cuộc đời.

Giữa năm 1990 và 2016, tỷ lệ mắc bệnh ở các quốc gia Tây Âu, Đông Âu và Trung Âu gần như không thay đổi, nhưng có sự biến thiên đáng kể khi so sánh các khu vực cụ thể; những khác biệt này có thể được quy cho sự phân bổ không đồng đều của các cơ sở y tế, hệ quả của việc phân bổ nguồn lực ít hơn cho rối loạn này do nó đòi hỏi phương pháp tiếp cận đa chuyên khoa và nhiều quốc gia không thể tính toán chính xác gánh nặng kinh tế mà nó sẽ gây ra.

Do sự biến thiên trong biểu hiện lâm sàng (cụ thể là do sự liên quan của các hệ cơ quan khác nhau trong cơ thể), bệnh nhân có xu hướng đến khám ở các bác sĩ chuyên khoa khác nhau, chẳng hạn như bác sĩ Sản Phụ khoa (gynecologist), bác sĩ đa khoa (general practitioner), hoặc bác sĩ Nội tiết (endocrinologist). Ở tất cả những bệnh nhân này, luôn có cơ hội để mỗi chuyên khoa tham gia bổ sung vào quá trình quản lý bệnh. Một yếu tố then chốt trong việc quản lý bệnh nhân PCOS là cung cấp cho họ kiến thức và nhận thức bởi vì hầu hết các vấn đề có thể được giải quyết nếu thực hiện các can thiệp lối sống đơn giản (lifestyle interventions). Đó là lý do tại sao các bệnh nhân trên toàn quốc tế báo cáo rằng họ được cung cấp quá ít thông tin để quản lý các triệu chứng của mình. Một yếu tố chính khác là rào cản giao tiếp (communication barrier). Tại Châu Âu, có những người từ các nền tảng/khu vực khác nhau (Người nhập cư – Immigrants) và nhiều người trong số họ không hiểu ngôn ngữ bản địa / ngôn ngữ chính thức đang được sử dụng ở quốc gia cụ thể mà họ đang cư trú, đặc biệt nếu họ là những người mới nhập cư. Vì vậy, nếu ngôn ngữ cụ thể đó là phương tiện duy nhất mà bác sĩ lâm sàng có thể giao tiếp, điều đó cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến thông tin được cung cấp cho bệnh nhân. Do bệnh cảnh lâm sàng đa dạng của PCOS và tác động tâm lý xã hội của nó, việc nâng cao nhận thức cho các nhóm dân cư có nền tảng kinh tế thấp là có tầm quan trọng hàng đầu vì mức độ hiểu biết rất khác biệt giữa những người có nền tảng kinh tế cao và những người không có.

Giáo dục có thể giúp gia đình của bệnh nhân hiểu những vấn đề mà bệnh nhân phải đối mặt và mức độ ảnh hưởng tồi tệ của nó đối với sức khỏe tâm thần. Trong PCOS, việc không chỉ giải quyết các vấn đề thể chất, những thay đổi nội tiết tố tiềm ẩn (như tăng cân và vô sinh) mà còn xem sức khỏe tâm thần (mental wellbeing) là quan trọng, là điều vô cùng cần thiết. Nhận thức có thể được nâng cao bằng cách tổ chức các buổi giáo dục, qua đó giải quyết những mối quan tâm cá nhân của bệnh nhân và hướng tới mọi bệnh nhân từ mọi nền tảng, ghi nhớ mức độ hiểu biết trước đây của họ. Nhiều bệnh nhân mắc PCOS vẫn không được chẩn đoán do thiếu kiến thức. Chuyên gia dinh dưỡng (dietitian) có thể đóng một vai trò lớn trong việc hỗ trợ bệnh nhân PCOS vì việc lựa chọn thực phẩm đúng đắn có thể giúp họ giảm cân và giảm thiểu tác động của tình trạng Đề kháng insulin (IR).

Các nghiên cứu đã thiết lập mối liên hệ giữa các rào cản, các yếu tố thúc đẩy và sự hài lòng khi đề cập đến cả bệnh nhân và các chuyên gia y tế, đồng thời đã tiết lộ những lợi ích của thông tin và sự hỗ trợ về mặt cảm xúc xã hội (socioemotional support). Bệnh nhân PCOS cần sự hỗ trợ mang tính cá nhân và được cá nhân hóa vì đây là một tình trạng mạn tính. Thông tin không đầy đủ có thể dẫn đến sự thất vọng cho bệnh nhân.

Một nghiên cứu đã hỏi các bệnh nhân PCOS về trải nghiệm của họ với PCOS, đặc biệt là về những phản hồi mà họ nhận được từ các chuyên gia chăm sóc sức khỏe, những trở ngại họ gặp phải trong việc nhận được chẩn đoán PCOS kịp thời, và mức độ chấp nhận tình trạng bệnh của họ trên các sắc tộc và nền văn hóa khác nhau. Các phản hồi chỉ ra rằng phụ nữ thường xuyên trình bày các vấn đề của họ với nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nhưng các triệu chứng của họ bị bỏ qua hoặc, nếu được chẩn đoán, lượng thông tin được cung cấp lại ít hơn mức cần thiết. Những người tham gia khảo sát đã báo cáo về sự giao tiếp kém từ phía các nhà cung cấp dịch vụ y tế. Trong nhiều trường hợp, việc giáo dục không được cá nhân hóa và các thành viên trong gia đình không được tham gia, dẫn đến sự thất vọng. Nhiều khoảng trống trong chăm sóc đã được báo cáo, và bệnh nhân phải tìm kiếm các nguồn tài nguyên trực tuyến, nhưng phần lớn thông tin họ tìm thấy trên mạng đều bị thương mại hóa. Tất cả các yếu tố nêu trên dẫn đến chất lượng cuộc sống kém ở bệnh nhân PCOS. Người ta đã đề xuất rằng các khóa học phù hợp và nền giáo dục cá nhân hóa nên được cung cấp để nhắm mục tiêu vào các bệnh nhân cụ thể, và bệnh nhân nên được trao quyền lựa chọn cách quản lý tình trạng của mình bằng cách cung cấp cho họ đầy đủ thông tin. Thông thường, sức khỏe tâm thần bị bỏ qua và nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe chỉ tập trung duy nhất vào việc điều trị các đặc điểm thể chất (ví dụ như mụn trứng cá, cân nặng và vô sinh). Do đó, cần có một phương pháp tiếp cận toàn diện hơn. Bởi vì PCOS là một tình trạng mạn tính, việc giáo dục bệnh nhân sẽ giúp họ cảm thấy tự tự tin hơn trong việc quản lý các triệu chứng của mình và đưa ra những lựa chọn đúng đắn cho bản thân. Tờ rơi thông tin cho bệnh nhân (patient information leaflets), việc sử dụng các phương tiện truyền thông điện tử và báo in, cùng với các nhóm thảo luận về PCOS đều được đề xuất như những cách để nâng cao nhận thức cho bệnh nhân. Tất cả những điều này cần sự hỗ trợ từ chính phủ và các tổ chức từ thiện.

Người ta đã báo cáo rằng đôi khi việc chỉ giải quyết các vấn đề với riêng bệnh nhân không mang lại hiệu quả. Đó là lý do tại sao việc tiếp cận toàn bộ gia đình và giữ họ trong vòng lặp thông tin trong các cuộc thảo luận là rất quan trọng, cuối cùng là tạo ra nhận thức giữa các gia đình để họ hiểu được nhu cầu của bệnh nhân. Dữ liệu đã tiết lộ rằng tỷ lệ mắc PCOS cao hơn ở Châu Âu một phần là do sự thiếu chấp nhận chẩn đoán PCOS từ phía gia đình, nền giáo dục kém, các rào cản văn hóa (chẳng hạn như không đi khám bác sĩ nam), và không coi việc tăng cân là nguyên nhân gây ra PCOS.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ