Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Hội chứng buồng trứng đa nang. CHƯƠNG CUỐI (30). HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG TẠI BẮC MỸ

44 phút đọc

Hội chứng Buồng trứng Đa nang: Từ Cơ sở Khoa học đến Các Tiến bộ Lâm sàng trong Suốt Cuộc đời | Polycystic Ovary Syndrome – Basic Science to Clinical Advances Across the Lifespan.
Biên tập: Rehana Rehman and Aisha Sheikh | (C) 2025 Nhà xuất bản Elsevier.
Dịch và Chú giải:
Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Ts.Bs. Ngô Đức Kỷ


CHƯƠNG CUỐI (30). HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG TẠI BẮC MỸ

MAHEEN SHAHID VÀ MUNEELA WAJID


Bắc Mỹ

Bắc Mỹ (North America – NA), bao phủ diện tích 24.230.000 km², là lục địa lớn thứ ba thế giới và là nơi sinh sống của chưa đến 10% dân số toàn cầu. Nơi đây đã phát triển để trở thành một trong những khu vực phát triển kinh tế bậc nhất thế giới. Lục địa này không chỉ có thu nhập bình quân đầu người cao nhất mà còn có lượng tiêu thụ thực phẩm cao nhất, dẫn đến tỷ lệ hiện mắc (prevalence) người thừa cân và béo phì cao hơn ở Bắc Mỹ.

Định Nghĩa

Hội chứng buồng trứng đa nang (Polycystic ovary syndrome – PCOS) có thể biểu hiện bằng một phổ các dấu hiệu và triệu chứng về chuyển hóa, da liễu và phụ khoa, cùng nhau tạo thành một rối loạn với các biểu hiện đa dạng dao động từ bệnh có triệu chứng nhẹ đến mức độ nghiêm trọng. Hiệp hội Y học Sinh sản Hoa Kỳ (American Society of Reproductive Medicine – ASRM) định nghĩa hội chứng buồng trứng đa nang là khi có ít nhất hai trong ba đặc điểm sau đây: cường androgen (hyperandrogenism – HA; trên lâm sàng hoặc sinh hóa), thưa kinh – không phóng noãn (oligoanovulation), và buồng trứng đa nang (polycystic ovaries). Đây là bệnh lý nội tiết (endocrinopathy) thường gặp nhất ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại Hoa Kỳ, ảnh hưởng đến khoảng 7% số người. Tại Hoa Kỳ, hội chứng buồng trứng đa nang đóng góp một phần đáng kể vào gánh nặng kinh tế chăm sóc sức khỏe (healthcare economic burden) với khoảng 4 tỷ đô la được chi tiêu mỗi năm cho hội chứng buồng trứng đa nang và các bệnh lý đồng mắc (comorbidities) liên quan.

Các Rối Loạn Liên Quan Đến Hội Chứng Buồng Trứng Đa Nang Ở Phụ Nữ Tại Hoa Kỳ

Các Rối Loạn Da Liễu

Chứng Rậm Lông Và Mụn Trứng Cá

Gần 70% phụ nữ mắc chứng rậm lông (hirsutism) có hội chứng buồng trứng đa nang tại Hoa Kỳ, khiến đây trở thành một triệu chứng than phiền thường gặp khi đến khám. Bệnh được định nghĩa là sự phân bố mọc lông tận (terminal hair growth) theo kiểu nam giới (male-pattern distribution) ở các khu vực như môi trên, cằm, quầng vú, ngực, lưng và vùng bụng dưới. Một nghiên cứu do Đại học Alabama thực hiện báo cáo rằng 74% phụ nữ mắc chứng rậm lông có hội chứng buồng trứng đa nang tại Hoa Kỳ. Cường androgen cũng biểu hiện về mặt thể chất dưới dạng mụn trứng cá (acne). Sự phân bố của nó giống với chứng rậm lông, chủ yếu lan ra vùng cổ, ngực, nửa dưới khuôn mặt và vùng bụng trên. Mụn trứng cá kháng trị hoặc kéo dài đến tuổi trưởng thành nên làm tăng sự nghi ngờ trên lâm sàng và cần phải được đánh giá thêm.

Rụng Tóc

Hội chứng buồng trứng đa nang được báo cáo là rối loạn nội tiết phổ biến nhất ở những bệnh nhân đến khám vì chứng rụng tóc (hair loss) tại Hoa Kỳ. Một nghiên cứu do Trường Y khoa Mount Sinai thực hiện đã ghi nhận 38,5% phụ nữ đến khám vì rụng tóc (alopecia) cũng mắc tình trạng cường androgen.

Rối Loạn Chức Năng Phóng Noãn/Kinh Nguyệt Không Đều

Rối loạn chức năng phóng noãn (ovulatory dysfunction) được định nghĩa trên lâm sàng là chu kỳ kinh nguyệt kéo dài dưới 26 ngày hoặc hơn 35 ngày, hoặc có tiền sử y khoa (medical history) dưới 9 chu kỳ kinh mỗi năm. Một nghiên cứu tiến cứu trên những phụ nữ trong độ tuổi sinh sản ở Alabama trải qua kỳ kiểm tra sức khỏe trước khi đi làm đã báo cáo tỷ lệ hiện mắc rối loạn kinh nguyệt (menstrual dysfunction) là 22,8%. Trong số phụ nữ Da đen, tỷ lệ hiện mắc rối loạn kinh nguyệt (menstrual disturbance) là 25,1%; trong khi ở phụ nữ Da trắng là 20,5%. Hartz và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu trên những phụ nữ Hoa Kỳ ở độ tuổi từ 20 đến 39 và quan sát thấy rằng những người có tỷ lệ eo trên mông (waist to hip ratio) lớn hơn có nguy cơ tiến triển các tình trạng kinh nguyệt không đều cao hơn. Các nhà nghiên cứu cũng ghi nhận rằng những bệnh nhân mắc hội chứng buồng trứng đa nang có chu kỳ kinh nguyệt bình thường ít có sự rối loạn trong hồ sơ chuyển hóa (metabolic profile) của họ hơn.

Hội Chứng Chuyển Hóa

Theo Bảng điều trị dành cho người lớn của Chương trình Giáo dục Cholesterol Quốc gia lần III (The National Cholesterol Education Program Adult Treatment Panel III – NCEP ATP III), sự hiện diện của ít nhất ba trong năm bất thường sau đây được định nghĩa là hội chứng chuyển hóa (metabolic syndrome – MetS): vòng eo (waist circumference) ở phụ nữ lớn hơn 88 cm, đường huyết đói (fasting blood sugar – FBS) lên đến 110 mg/dL [6,1 mmol/L], triglyceride huyết thanh đói (fasting serum triglyceride) lên đến 150 mg/dL [1,7 mmol/L], lipoprotein mật độ cao (high-density lipoprotein – HDL) huyết thanh dưới 50 mg/dL [1,3 mmol/L] và huyết áp (blood pressure – BP) từ 130/85 mm Hg trở lên. Tỷ lệ hiện mắc hội chứng chuyển hóa ở phụ nữ Hoa Kỳ mắc hội chứng buồng trứng đa nang được báo cáo là 43%, cao hơn nhiều so với mức tỷ lệ hiện mắc 24% được tìm thấy ở những phụ nữ không mắc hội chứng buồng trứng đa nang trong cùng khu vực. Tỷ lệ hiện mắc thậm chí còn thấp hơn ở những nơi khác trên thế giới như Ý, nơi chỉ có 8,2% phụ nữ mắc hội chứng buồng trứng đa nang báo cáo có hội chứng chuyển hóa. Thói quen ăn uống tại Hoa Kỳ và đại dịch béo phì có thể là những yếu tố đóng góp vào các số liệu thống kê này, qua đó chứng minh tác động sâu sắc của lối sống đối với hội chứng chuyển hóa và hội chứng buồng trứng đa nang. Các báo cáo quan sát thấy rằng phụ nữ Hoa Kỳ mắc đồng thời hội chứng buồng trứng đa nang và hội chứng chuyển hóa biểu hiện tình trạng cường androgen và các triệu chứng liên quan nghiêm trọng hơn so với những người chỉ mắc hội chứng buồng trứng đa nang đơn thuần. Chỉ số HDL thấp là phát hiện thường xuyên được quan sát thấy nhất và xuất hiện ở khoảng 68% bệnh nhân hội chứng buồng trứng đa nang tại Hoa Kỳ, tiếp theo là chỉ số khối cơ thể (body mass index – BMI) tăng ở 67% trường hợp, tăng huyết áp ở 45%, tăng triglyceride máu (hypertriglyceridemia) ở 35% và đường huyết đói bất thường ở 4%. Nguy cơ tiến triển thành bệnh đái tháo đường típ 2 (type 2 diabetes mellitus – DM) và các biến chứng tim mạch (cardiovascular complications) tăng lên ở những bệnh nhân mắc hội chứng chuyển hóa.

Kháng Insulin Và Tăng Insulin Máu

Tăng insulin máu (hyperinsulinemia) là một yếu tố bên ngoài quan trọng làm trầm trọng thêm tình trạng cường androgen quan sát thấy ở bệnh nhân hội chứng buồng trứng đa nang. Tình trạng này được biết là xảy ra ngay cả khi không có béo phì, và do đó, các bệnh lý do đề kháng insulin (insulin resistance – IR), chẳng hạn như đái tháo đường, thường đi kèm với hội chứng buồng trứng đa nang. Legro và cộng sự đã báo cáo tỷ lệ hiện mắc giảm dung nạp glucose (impaired glucose tolerance – IGT) là 31,1% ở phụ nữ Hoa Kỳ mắc hội chứng buồng trứng đa nang và 7,8% ở nhóm chứng tương đồng về tuổi và BMI. Một nghiên cứu khác báo cáo tình trạng đề kháng insulin ở phụ nữ gốc Tây Ban Nha (Hispanic) mắc hội chứng buồng trứng đa nang cao hơn so với phụ nữ Da trắng không phải gốc Tây Ban Nha mắc hội chứng này.

Rối Loạn Lipid Máu

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ