PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm, BVQY 103, HVQY
1. Đại cương
1.1. Giải phẫu chức năng cơ sấp cánh tay quay
– Nguyên ủy: Cơ bám vào gờ trên lồi cầu ngoài xương cánh tay và vách gian cơ ngoài của xương cánh tay.
– Bám tận: Mặt ngoài đầu dưới xương quay ngay trên mỏm châm quay.
– Chi phối thần kinh: rễ C5, C6, dây thần kinh quay
– Tên gọi: vì cơ có chức năng sấp cẳng tay và có hai điểm bám là đầu dưới xương cánh tay và đầu dưới xương quay nên được gọi là cơ sấp cánh tay quay.
– Chức năng: Gấp cẳng tay, sấp cẳng tay từ tư thế ngửa đến trung tính, ngửa cẳng tay từ tư thế sấp đến trung tính.
Động tác gấp khuỷu tay có sự tham gia của 4 cơ:
+ Cơ nhị đầu cánh tay (Bicep bracii)
+ Cơ cánh tay (Bracialis)
+ Cơ sấp cánh tay quay (Briachioradialis)
+ Trợ giúp của cơ sấp tròn (Pronatoteres)
Hình 1. Cơ sấp cánh tay quay và hướng co cơ của nhóm cơ gấp cẳng tay
Cơ cánh tay quay nhỏ hơn cơ nhị đầu và cơ cánh tay nhưng có cánh tay đòn dài nên có lợi về lực nhất trong động tác gấp khuỷu, cũng chính vì vậy ở động tác gấp khuỷu có lực cản mạnh, gân cơ phải chịu lực mạnh so với độ lớn của nó. Lực gấp cánh tay của cơ có hiệu quả nhất khi cẳng tay ở tư thế nửa sấp. Gân cơ có một phần bám vào mạc ngoài cánh tay nên nuôi dưỡng kém dễ bị thoái hóa và tổn thương hơn các gân cơ khác.
1.2. Nguyên nhân
Hội chứng gân cơ sấp cánh tay quay thường gặp ở:
– Người trên 40 tuổi
– Người lao động thường phải làm các động tác gấp duỗi, sấp ngửa cẳng tay lặp đi lặp lại như vặn vắt, xách nặng
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ