Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Hỏi & Đáp Nội tiết học lâm sàng, Ấn bản thứ 8 (2026). CHƯƠNG 18. TĂNG CANXI MÁU

46 phút đọc

Hỏi & Đáp Nội tiết học lâm sàng, Ấn bản thứ 8 (2026). Endocrine Secrets Eighth Edition. 
Copyright © 2026 by Elsevier Inc. Chủ biên: Michael T. McDermott. DỊCH VÀ CHÚ GIẢI: BS LÊ ĐÌNH SÁNG
Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến trên các website yhoclamsang.net & sachyhoc.com của Thư viện Medipharm vì mục đích lan toả tri thức, hoàn toàn phi lợi nhuận. 


CHƯƠNG 18. TĂNG CANXI MÁU

Hypercalcemia
Leonard R. Sanders
Endocrine Secrets, CHAPTER 18, 185-195


1. Tăng Canxi Máu Là Gì, Và Liên Kết Protein Ảnh Hưởng Đến Mức Canxi Như Thế Nào?

Tăng canxi máu (hypercalcemia) được định nghĩa là tình trạng giá trị canxi huyết thanh toàn phần hiệu chỉnh vượt quá giới hạn trên của mức bình thường, hoặc khi giá trị canxi ion hóa tăng cao. Canxi trong máu tồn tại dưới ba dạng: 50% ở dạng tự do (ion hóa), 40% liên kết với protein, và 10% tạo phức hợp với phosphat, citrat, bicarbonat, sulfat và lactat. Trên lâm sàng, chỉ những thay đổi của nồng độ canxi tự do mới gây ra các triệu chứng và dấu hiệu bệnh lý. Trong phần canxi liên kết với protein, có khoảng 80% gắn với albumin và 20% gắn với globulin. Việc giảm hoặc tăng albumin huyết thanh 1 g/dL (10 g/L) so với mức chuẩn 4 g/dL (40 g/L) sẽ làm giảm hoặc tăng tương ứng nồng độ canxi huyết thanh 0,8 mg/dL (0,2 mmol/L). Tương tự, việc tăng hoặc giảm globulin huyết thanh 1 g/dL (10 g/L) sẽ làm tăng hoặc giảm canxi huyết thanh 0,16 mg/dL (0,04 mmol/L). Những biến đổi về nồng độ protein này hoàn toàn không làm thay đổi lượng canxi tự do nên không gây ra các triệu chứng liên quan đến canxi.

2. Tăng Canxi Máu Và Các Tình Trạng Liên Quan Chính Của Nó Phổ Biến Như Thế Nào?

Tình trạng tăng canxi máu ảnh hưởng đến khoảng 0,5% đến 1% dân số chung. Tỷ lệ mắc mới có thể tăng lên đến 3% ở phụ nữ sau mãn kinh. Bệnh lý cường cận giáp nguyên phát (Primary hyperparathyroidism – PHPT) chiếm nguyên nhân của 70% các trường hợp ngoại trú và 20% các trường hợp nội trú bị tăng canxi máu. Bệnh Ung thư (Cancer) là nguyên nhân gây ra hầu hết các trường hợp tăng canxi máu phải nhập viện nội trú. Có khoảng 10% đến 30% người bệnh mắc các bệnh lý ác tính (malignancy) sẽ gặp phải tình trạng tăng canxi máu.

Cường cận giáp và Ung thư gộp lại gây ra 90% tổng số ca bệnh tăng canxi máu. Bên cạnh đó, khoảng 10% đến 20% người bệnh bị cường cận giáp gặp phải biến chứng sỏi thận (nephrolithiasis). Trong đó, sỏi canxi oxalat là loại sỏi phổ biến nhất, nhưng sỏi canxi phosphat mới là loại mang tính đặc trưng nhất cho tình trạng này.

3. Làm Thế Nào Để Phân Loại Tăng Canxi Máu Nhẹ, Trung Bình Và Nặng?

Trước tiên, bác sĩ cần xem xét tình trạng sức khỏe tổng thể của người bệnh, các triệu chứng lâm sàng của tình trạng tăng canxi máu và khoảng tham chiếu sinh hóa của phòng xét nghiệm, thông thường dao động từ 8,5 đến 10,5 mg/dL (2,12 đến 2,62 mmol/L). Sau đó, tiến hành hiệu chỉnh nồng độ canxi theo nồng độ albumin như công thức sau:

Canxi hiệu chỉnh = Canxi đo được + [(4,0 – Albumin) x 0,8]

(Ghi chú: Nồng độ canxi tính bằng mg/dL, albumin tính bằng g/dL)

Nồng độ canxi hiệu chỉnh vượt quá khoảng tham chiếu của phòng xét nghiệm sẽ xác định tình trạng tăng canxi máu. Bác sĩ phân loại mức độ bệnh như sau: tăng canxi máu mức độ nhẹ xảy ra khi nồng độ canxi dưới 12 mg/dL (3,0 mmol/L); mức độ trung bình nằm trong khoảng từ 12 đến 14 mg/dL (3,0 đến 3,5 mmol/L); và mức độ nặng khi nồng độ canxi vượt trên 14 mg/dL (3,5 mmol/L).

4. Các Dấu Hiệu Và Triệu Chứng Của Tăng Canxi Máu Là Gì?

Người bệnh thường không biểu hiện triệu chứng lâm sàng nào trong các trường hợp tăng canxi máu mức độ nhẹ (dưới 12 mg/dL hay dưới 3,0 mmol/L). Tuy nhiên, tăng canxi máu mức độ trung bình hoặc nặng, cũng như các trường hợp tăng canxi máu nhẹ nhưng tiến triển nhanh, hoàn toàn có thể gây ra nhiều triệu chứng và dấu hiệu rầm rộ, bao gồm:

  • Hệ thần kinh trung ương: Lú lẫn, lờ đờ, khát nước nhiều, sững sờ, hôn mê, và rối loạn tâm thần.
  • Đường tiêu hóa: Chán ăn, buồn nôn, táo bón, bệnh lý viêm loét dạ dày tá tràng, và viêm tụy.
  • Hệ tiết niệu (Thận): Đa niệu, sỏi thận, vôi hóa nhu mô thận, và tổn thương thận cấp tính.
  • Hệ cơ xương khớp: Đau nhức khớp, đau cơ, và yếu cơ.
  • Hệ tim mạch: Tăng huyết áp.

Trên lâm sàng, khoảng QT ngắn lại là sự thay đổi điện tâm đồ (electrocardiography – ECG) kinh điển nhất gắn liền với tình trạng tăng canxi máu. Khi tăng canxi máu tiến triển nặng, người bệnh có thể bị rối loạn nhịp tim, ngừng xoang, rối loạn dẫn truyền nhĩ thất (atrioventricular – AV), xuất hiện sóng J (sóng Osborn) và đoạn ST chênh lên dễ gây nhầm lẫn với bệnh cảnh nhồi máu cơ tim.

5. Nguồn Canxi Huyết Thanh Chủ Yếu Bắt Nguồn Từ Đâu?

Khối lượng canxi dự trữ trong xương ước tính khoảng 1 kg, chiếm đến 99% tổng lượng canxi của toàn bộ cơ thể. Cơ thể duy trì nồng độ canxi huyết thanh ổn định bằng cách điều hòa chặt chẽ ba quá trình: hấp thu, tiêu xương (resorption) và tái hấp thu canxi. Các quá trình này diễn ra lần lượt tại ruột, xương và thận. Cụ thể, trong số 1000 mg canxi nạp vào cơ thể mỗi ngày từ chế độ ăn uống, niêm mạc ruột sẽ hấp thu 300 mg, bài tiết ngược lại vào lòng ruột 100 mg và thải trừ qua phân 800 mg. Lượng hấp thu ròng trung bình đạt 200 mg mỗi ngày. Khả năng hấp thu canxi thông thường chiếm khoảng 30% lượng canxi trong chế độ ăn; tuy nhiên, tỷ lệ hấp thu này có thể tăng vọt lên mức trên 50% khi người bệnh sử dụng liều lượng lớn thuốc calcitriol. Về phần mình, thận tái hấp thu đến 98% lượng canxi được lọc qua cầu thận và chỉ bài tiết ra nước tiểu 200 mg mỗi ngày. Hệ xương khớp trao đổi khoảng 500 mg canxi mỗi ngày với huyết thanh (Xem Hình 18.1).

Hình 18.1. Cân Bằng Canxi Sinh Lý Bình Thường Của Cơ Thể. ECF: Dịch ngoại bào (Extracellular fluid).

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ