Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoaSản Phụ khoa BẢN ĐỌC THỬ

Lạc nội mạc tử cung

18 phút đọc

James H. Liu, MD, Case Western Reserve University School of Medicine

Nội dung
  • Bệnh căn và Sinh lý bệnh
  • Triệu chứng và Dấu hiệu
  • Chẩn đoán
  • Điều trị
  • Những điểm chính
Trong lạc nội mạc tử cung, các tế bào nội mạc tử cung bị lạc chỗ trong tiểu khung bên ngoài buồng tử cung. Các triệu chứng tùy thuộc vào vị trí của lạc nội mạc tử cung. Bộ ba triệu chứng kinh điển là thống kinh, giao hợp đau và vô sinh, nhưng các triệu chứng cũng có thể bao gồm khó đi tiểu và đau khi đại tiện. Mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng không liên quan đến giai đoạn bệnh. Chẩn đoán khi quan sát thấy trực tiếp hoặc đôi khi thông qua sinh thiết, thường qua nội soi ổ bụng. Các phương pháp điều trị bao gồm thuốc chống viêm, thuốc ức chế hoạt động của buồng trứng và tăng trưởng mô nội mạc tử cung, phẫu thuật cắt bỏ vùng niêm mạc tử cung lạc chỗ và nếu bệnh nghiêm trọng và không có kế hoạch có con thì có thể cắt tử cung đơn thuần hoặc cắt tử cung và phần phụ hai bên.

Khái niệm

Nội mạc tử cung thường lạc chỗ vào phúc mạc và thanh mạc trên bề mặt các cơ quan vùng chậu, thường ở buồng trứng, dây chằng rộng, túi cùng sau, dây chằng tử cung cùng.

Các vị trí ít phổ biến hơn bao gồm ống dẫn trứng, bề mặt ruột non, ruột già, niệu quản, bàng quang, âm đạo, cổ tử cung, sẹo phẫu thuật, và ít gặp hơn ở phổi, màng phổi và màng ngoài tim.

Chảy máu do sự lạc chỗ bất thường tại phúc mạc ban đầu gây phản ứng viêm vô khuẩn, tiếp đó là sự hình thành của fibrin, tạo bám dính và cuối cùng là sẹo, làm méo mó phúc mạc bề mặt của các cơ quan, dẫn đến đau và giải phẫu vùng chậu bị ảnh hưởng.

Tỷ lệ mắc bệnh được báo cáo khác nhau nhưng là khoảng

  • 6 đến 10% ở tất cả phụ nữ

  • 25 đến 50% ở phụ nữ vô sinh

  • 75 đến 80% ở phụ nữ bị đau vùng chậu mạn tính

Tuổi trung bình được chẩn đoán là 27 tuổi, nhưng lạc nội mạc tử cung cho thấy có xảy ra ở tuổi thanh thiếu niên.

Căn nguyên và sinh lý bệnh

Giả thuyết được chấp nhận rộng rãi nhất đối với sinh lý bệnh học của nội mạc tử cung là các tế bào nội mạc tử cung di chuyển từ buồng tử cung trong kỳ kinh nguyệt và bám dính vào các vị trí ngoài tử cung. Phổ biến là dòng chảy ngược của tổ chức trong chu kỳ kinh qua vòi trứng vào ổ bụng; hệ bạch huyết và hệ thống tuần hoàn có thể vận chuyển, các tế bào nội mạc đến những vị trí xa hơn (như khoang màng phổi).

Một giả thuyết khác là quá trình dị sản khoang cơ thể: Biểu mô khoang cơ thể được chuyển thành các tuyến giống như nội mạc tử cung.

Về mặt vi thể thì phần nội mạc tử cung lạc chỗ có cấu trúc và các tuyến về mặt tế bào học giống như nội mạc tử cung. Những mô này chứa các thụ thể estrogen và progesterone và do đó thường phát triển, biến đổi và chảy máu để đáp ứng với sự thay đổi lượng hormone trong chu kỳ kinh nguyệt; hơn nữa, một số phần nội mạc tử cung bị lạc chỗ này sản sinh ra estrogen và prostaglandin. Quá trình lạc nội mạc có thể tự tiếp diễn hoặc tự thoái triển giống như xảy ra trong khi có thai (có thể bởi vì nồng độ progesterone ở mức cao). Cuối cùng, hiện tượng lạc nội mạc có thể gây viêm và tăng số lượng các đại thực bào được kích hoạt và sản xuất các cytokine tiền viêm.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ