- Tác giả:VIỆN TIM MẠCH VIỆT NAM
- Chuyên ngành:TIM MẠCH
- Nhà xuất bản:VIỆN TIM MẠCH VIỆT NAM
- Năm xuất bản:2019
Loét chi dưới được định nghĩa là tình trạng mất tổ chức da mạn tính, không có xu hướng tự liền sẹo. Có từ 1-2% dân số trên 60 tuổi bị loét chi dưới, làm tăng gánh nặng về kinh tế trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Phần lớn loét chi dưới có nguồn gốc mạch máu, tức là biến chứng của một bệnh lý tĩnh mạch (hay gặp nhất), động mạch hay vi tuần hoàn.
ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ BỆNH
Sinh lý bệnh của loét do nguyên nhân tĩnh mạch tương đối phức tạp:
Ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch mạn tính (do giãn tĩnh mạch, hoặc sau khi bị huyết khối tĩnh mạch) là nguyên nhân gây ra sự tăng áp lực tĩnh mạch dẫn đến tăng áp lực vi tuần hoàn mao tĩnh mạch.
Nhiều thay đổi về vi tuần hoàn gây ra sự tổn thương của hàng rào nội mạc làm huyết tương, đại thực bào và các thành phần hữu hình khác trong máu thoát ra khoảng kẽ, sự xuyên mạch của bạch cầu dẫn đến phản ứng viêm, sự sản xuất ra các gốc tự do gây độc, sự tạo thành những vỏ fibrin tiền mao mạch… gây ra tình trạng thiếu oxy mô cục bộ, làm mất tổ chức da mạn tính.
Sinh lý bệnh của loét do nguyên nhân động mạch hay vi tuần hoàn đơn giản hơn:
Sự mất tổ chức da liên quan trực tiếp với tình trạng thiếu máu mô do giảm tưới máu động mạch hay mao động mạch.
CHẨN ĐOÁN LOÉT CHI DƯỚI
Bước đầu tiên trong chẩn đoán loét chi dưới là phải xác định loét có nguồn gốc mạch máu hay không. Nhận biết điều này khá đơn giản, dựa trên sự thăm khám và phân tích hợp lý một số yếu tố lâm sàng sau:
Khám kỹ ổ loét.
Đánh giá tổ chức xung quanh: Có tình trạng loạn dưỡng kèm theo không.
Tình trạng mạch máu chi.
Cơ địa (đặc biệt là yếu tố bệnh lý mạch máu lớn, hoặc vi tuần hoàn).
Loét chi dưới có nguồn gốc mạch máu:
Loét do nguyên nhân tĩnh mạch:
Gặp nhiều nhất trong nhóm loét do nguyên nhân mạch máu, bệnh lý này có thể là biến chứng muộn của huyết khối tĩnh mạch sâu, hoặc giãn tĩnh mạch nông chi dưới với suy các tĩnh mạch xuyên.
Những đặc trưng lâm sàng chính của bệnh bao gồm: Tính chất không đau, vị trí quanh mắt cá, ẩm, kèm theo các dấu hiệu của bệnh lý tĩnh mạch mạn tính như viêm da sắc tố, viêm teo da…
Một số dấu hiệu quan trọng khác: Không có hoại tử, bề mặt ổ loét không lõm sâu, mạch ngoại vi vẫn bắt được.
Loét do nguyên nhân động mạch:
Những triệu chứng lâm sàng đặc trưng bao gồm: Đau, tính chất đau tăng khi nâng cao chân, vị trí thường ở đầu chi, xa mắt cá chân, ổ loét lõm sâu, hoại tử, lộ rõ các cấu trúc xung quanh, bờ dốc .
Kèm theo các dấu hiệu khác của bệnh lý động mạch .
Loét do nguyên nhân hỗn hợp (động, tĩnh mạch):
Tương đối phổ biến, tiên lượng nặng hơn, và điều trị phức tạp hơn.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ