Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, Ấn bản thứ 7 (2026). Chương 18. Đau bụng không cấp tính và các triệu chứng và dấu hiệu khác ở bụng

83 phút đọc

Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, ấn bản thứ 7 (2026)
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 7th Edition
Biên tập viên chính: Clive R. G. Quick, Suzanne Biers, Tan Arulampalam, Philip J. Deakin
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – (C) 2026 Elsevier


Chương 18. Đau bụng không cấp tính và các triệu chứng và dấu hiệu khác ở bụng

Nonacute abdominal pain and other abdominal symptoms and signs
Clive R.G. Quick, MBBS(London), FDS, FRCS(England), MS(London), MA(Cantab); Suzanne M. Biers, BSc, MBBS, MD, FRCS; Tan H.A. Arulampalam, MBBS, MD, FRCS
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 18, 303-325


Giới thiệu

Chẩn đoán các triệu chứng cơ năng không cấp tính ở bụng là một phần quan trọng trong công việc lâm sàng của ngoại khoa tổng quát (general surgical clinical workload). May mắn thay, nhiều người bệnh (patients) có triệu chứng cơ năng ở bụng có thể được quản lý ngoại trú. Các chẩn đoán tại phòng khám thường khá khác biệt so với các loại chẩn đoán khi nhập viện phẫu thuật cấp cứu. Ở người bệnh ngoại trú, các triệu chứng thường khởi phát âm thầm và hầu hết người bệnh đến khám khi các triệu chứng đã trở nên phiền toái hơn. Tuy nhiên, các bác sĩ phẫu thuật tại phòng khám phải luôn cảnh giác với các biểu hiện không quen thuộc mà thường xuất hiện cấp tính, ví dụ như một khối viêm ruột thừa.

Các triệu chứng chính của các rối loạn bụng không cấp tính được trình bày trong Hộp 18.1. Ngoài ra, người bệnh thường được giới thiệu đến bác sĩ ngoại khoa sau khi phát hiện một khối u ở bụng, vàng da tắc mật hoặc thiếu máu thiếu sắt do mất máu mạn tính. Như mọi khi, bệnh sử có thể cung cấp 70% hoặc nhiều hơn các manh mối chẩn đoán và phải được khai thác một cách thấu đáo, chính xác và hết sức cẩn thận. Thăm khám lâm sàng cung cấp thêm khoảng 20% chẩn đoán. Theo quy tắc chung, việc khai thác bệnh sử và khám lâm sàng nên được thực hiện trước tiên để đưa ra chẩn đoán phân biệt sơ bộ và định hướng cho bất kỳ xét nghiệm cận lâm sàng nào.

HỘP 18.1 Các triệu chứng chính của các rối loạn bụng không cấp tính

  • Đau bụng
  • Khó nuốt (dysphagia)
  • Sụt cân
  • Chán ăn (loss of appetite)
  • Buồn nôn hoặc nôn từng cơn
  • Thay đổi thói quen đại tiện, bao gồm đi cầu ra máu

Đau

Tính chất, thời điểm và vị trí của cơn đau

Các điểm chính trong việc khai thác bệnh sử đau bụng được tóm tắt trong Hộp 18.2. Đau là một trải nghiệm chủ quan cao độ, và việc mô tả cơn đau sẽ bị ảnh hưởng bởi nhận thức của người bệnh về nó và ý nghĩa có thể có của nó. Người bệnh thường sử dụng các thuật ngữ mơ hồ như ‘khó tiêu’, ‘viêm dạ dày’ và ‘chứng khó tiêu’; các thuật ngữ này không chính xác về mặt chẩn đoán, vì vậy cần làm rõ ý nghĩa thực sự của người bệnh bằng cách đặt thêm câu hỏi. Các đặc điểm liên quan đến thời gian của cơn đau thường có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành chẩn đoán phân biệt nhưng chỉ có thể được khai thác bằng cách hỏi cẩn thận. Điều quan trọng là phải xác định thời điểm cơn đau bắt đầu. Đôi khi, hỏi người bệnh lần cuối cùng cảm thấy hoàn toàn khỏe mạnh là khi nào sẽ giúp xác định chính xác thời điểm khởi phát. Khi trình bày hoặc viết bệnh án, hãy báo cáo rằng ‘cơn đau bắt đầu từ 6 ngày trước’ thay vì, ví dụ, ‘nó bắt đầu vào thứ Năm tuần trước’.

HỘP 18.2 Đánh giá đau bụng qua bệnh sử

(1) Khởi phát và thời gian đau
  • Cơn đau bắt đầu từ bao lâu (giờ, ngày, tuần)?
  • Khởi phát từ từ hay đột ngột? (khởi phát đột ngột ngụ ý nguyên nhân cơ học)
  • Có đợt hoặc cơn đau tương tự nào trước đây không?

(2) Tính chu kỳ

  • Cơn đau có đến từng cơn tái phát hàng giờ, hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng không?
  • Chủ yếu vào ban ngày hay ban đêm?
  • Có khoảng thời gian nào hoàn toàn không đau không?
  • Ở người bệnh nữ, có liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt không? Khả năng mang thai?

(3) Vị trí đau

  • Cơn đau bắt đầu ở đâu và bâyBây giờ ở đâu, ví dụ: trung tâm, thượng vị, hạ sườn phải hoặc trái, hố chậu phải hoặc trái, trên xương mu, ‘bụng dưới’ hay hông lưng?
  • Đau có khu trú rõ hay không? (ví dụ: khu trú rõ nếu phúc mạc thành bị liên quan do có sự chi phối của thần kinh thân thể)
  • Đau có lan không? (tức là lan sang các vùng lân cận)

(4) Mức độ nặng và tính chất của cơn đau

  • Chỉ khó chịu, đau vừa hay đau dữ dội?
  • Nó ảnh hưởng đến các hoạt động sinh hoạt bình thường như thế nào?
  • Người bệnh dùng từ gì để mô tả: ‘nhói’; ‘âm ỉ’; ‘rát bỏng’: ‘nghiền nát’ ‘sâu’; ‘như gặm nhấm’: ‘như khoan’: ‘trướng hơi’: ‘như dao đâm’; ‘như đâm’?
  • Cơn đau có khả năng là sinh lý (ví dụ: đau quặn bụng trước khi đại tiện hoặc đau bụng kinh) hay bệnh lý?

(5) Sự thay đổi của cường độ đau theo thời gian

  • Tính chất của cơn đau có thay đổi trong một cơn đau không, ví dụ: liên tục, ngắt quãng hoặc từng cơn, ‘đau quặn’ (tức là đến từng cơn dữ dội giống như chuột rút), đau nền kèm các đợt tăng nặng?

(6) Các yếu tố tăng nặng và giảm nhẹ

  • Ví dụ, cải thiện hay tệ hơn khi ăn, tư thế, vận động hoặc dùng thuốc?

(7) Các triệu chứng liên quan

  • Ví dụ, nôn, thay đổi thói quen đại tiện, sụt cân hoặc buồn nôn?

Người bệnh mô tả cơn đau theo nhiều cách khác nhau, và vì mỗi thực thể bệnh có xu hướng có kiểu hình riêng, các kiểu hình chẩn đoán có thể nhận biết được chỉ xuất hiện nếu tất cả các khía cạnh của bệnh sử đau được hỏi đến.

Vị trí khởi phát, phân bố và hướng lan của cơn đau

Những đặc điểm này, và đặc biệt là vị trí mà cơn đau biểu hiện đầu tiên, gợi ý các cấu trúc giải phẫu có khả năng liên quan. Những điều này được thể hiện trong Hình 18.1.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ