Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, ấn bản thứ 7 (2026)
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 7th Edition
Biên tập viên chính: Clive R. G. Quick, Suzanne Biers, Tan Arulampalam, Philip J. Deakin
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – (C) 2026 Elsevier
CHƯƠNG 37. BỆNH LÝ SỎI TIẾT NIỆU
Stone disease of the urinary tract
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 34, 502-513
Giới thiệu
Sỏi có thể hình thành ở mọi vị trí của đường tiết niệu, bao gồm hệ thống đài bể thận, niệu quản, bàng quang và đôi khi cả niệu đạo. Sỏi thường gây ra các triệu chứng do tắc nghẽn hoặc do tạo điều kiện thuận lợi cho nhiễm trùng đường tiết niệu.
Sỏi đường tiết niệu trên (upper tract calculi) phổ biến hơn nhiều so với sỏi bàng quang, và tỷ lệ mắc bệnh đang gia tăng. Các loại sỏi rất đa dạng, từ loại sỏi san hô (staghorn calculus) ít gặp lấp đầy hệ thống đài bể thận, đến các viên sỏi nhỏ hình thành trong đài bể thận có thể di chuyển và gây tắc nghẽn niệu quản. Tắc nghẽn niệu quản cấp tính gây đau dữ dội và biểu hiện như một cấp cứu ngoại khoa cơn đau quặn thận (ureteric colic). Tuy nhiên, hầu hết bệnh lý sỏi thường không có triệu chứng hoặc biểu hiện không cấp thiết tại phòng khám ngoại trú.
Bệnh sỏi (urolithiasis) ở trẻ em hiện nay hiếm gặp ở các nước thu nhập cao. Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất xảy ra trong độ tuổi từ 20 đến 50 và giảm dần sau đó (Hình 37.1). Nguy cơ mắc bệnh sỏi niệu trong suốt cuộc đời là 10%-15% ở các nước phương Tây và lên tới 25% ở Trung Đông. Người bệnh nam bị ảnh hưởng nhiều gấp đôi so với người bệnh nữ. Tỷ lệ sỏi tái phát cũng rất cao; nếu không áp dụng các biện pháp phòng ngừa ở những người đã mắc bệnh, nguy cơ tái phát là khoảng 10% sau 1 năm, 33% sau 5 năm và 50% sau 10 năm.
Sinh lý bệnh của bệnh sỏi
Sỏi thường được hình thành từ hỗn hợp các chất hóa học và khoáng chất (ví dụ: canxi và oxalate) khi nồng độ của chúng vượt quá độ hòa tan trong nước tiểu. Các giai đoạn quá bão hòa (supersaturation) ngắt quãng do mất nước, các bệnh lý nội khoa hoặc sau các bữa ăn có thể dẫn đến giai đoạn sớm nhất của sự hình thành tinh thể (gọi là quá trình tạo nhân – nucleation). Các tinh thể kết tụ lại thành nhóm (gọi là quá trình ngưng tụ – aggregation) và hoạt động như một nhân cho sự hình thành sỏi tiếp theo. Các yếu tố thúc đẩy hình thành sỏi bao gồm thể tích nước tiểu thấp, pH nước tiểu thấp và nồng độ canxi, natri, oxalate và urate trong nước tiểu cao. Sự thiếu hụt các chất ức chế kết tinh trong nước tiểu cũng đóng vai trò trong việc hình thành sỏi. Các chất ức chế hình thành sỏi bao gồm citrate, magie, protein Tamm-Horsfall và các glycosaminoglycan.
Bảng 37.1 cung cấp một phân loại đơn giản hiển thị tần suất tương đối của các loại sỏi cùng với các đặc điểm lâm sàng quan trọng và căn nguyên của chúng. Canxi hiện diện trong hơn 80% các trường hợp, dưới dạng hợp chất oxalate hoặc phosphate hoặc cả hai. Trong hầu hết các trường hợp, căn nguyên của bệnh sỏi là đa yếu tố.
Các yếu tố thuận lợi cho bệnh sỏi
Một yếu tố thuận lợi cụ thể có thể được phát hiện trong một số trường hợp. Những yếu tố này được tóm tắt trong Hộp 37.1, bao gồm nhiễm trùng mãn tính, ứ đọng nước tiểu và dị vật.
Sỏi chứa canxi
Ở những người bệnh có sỏi chứa canxi, các bất thường tiềm ẩn cụ thể hiếm khi được phát hiện. Một số người bệnh bài tiết canxi quá mức (tăng canxi niệu vô căn – idiopathic hypercalciuria) mà không bị tăng canxi máu; ở những trường hợp này, có thể có sự gia tăng hấp thu canxi ở ruột dẫn đến tăng bài tiết qua nước tiểu.
Sỏi do bài tiết quá mức một thành phần tạo sỏi trong nước tiểu
Một thiểu số người bệnh có rối loạn tiềm ẩn chịu trách nhiệm cho việc bài tiết quá mức thành phần chính của sỏi qua nước tiểu. Các ví dụ bao gồm cường cận giáp (canxi), tăng oxalate niệu (hyperoxaluria) (oxalate), bệnh gút (axit uric), cystinuria (sỏi cystine) và xanthinuria (sỏi xanthine).

Hình 37.1: Tỷ lệ mắc bệnh sỏi tương đối theo độ tuổi ở các nước thu nhập cao
Hộp 37.1: Các yếu tố thuận lợi trong sự hình thành sỏi
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ