Ngoại khoa Căn bản: Vấn đề, Chẩn đoán và Quản lý, ấn bản thứ 7 (2026)
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 7th Edition
Biên tập viên chính: Clive R. G. Quick, Suzanne Biers, Tan Arulampalam, Philip J. Deakin
Dịch & Chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng – (C) 2026 Elsevier
CHƯƠNG 50 (HẾT). CÁC VẤN ĐỀ BỤNG VÀ TIẾT NIỆU KHÔNG CẤP CỨU Ở TRẺ EM
Nonacute abdominal and urological problems in children
Essential Surgery: Problems, Diagnosis and Management, 50, 700-709
Giới thiệu
Nhìn chung, các tình trạng quan trọng nhất biểu hiện như các cấp cứu trong ngoại khoa nhi thường do các vấn đề bẩm sinh xuất hiện ngay trong giai đoạn sơ sinh. Ngược lại, các tình trạng không cấp cứu xuất hiện ở mọi lứa tuổi của thời thơ ấu. Chương này đề cập đến các vấn đề về bụng và tiết niệu ở trẻ em, mặc dù các hệ cơ quan khác tất nhiên cũng có thể bị ảnh hưởng bởi các rối loạn hoặc bệnh lý trong thời thơ ấu. Các lý do phổ biến nhất để chuyển tuyến ngoại khoa không cấp cứu là thoát vị và các vấn đề liên quan, bất thường về sự di chuyển của tinh hoàn, lỗ tiểu thấp và các vấn đề về bao quy đầu. Ít gặp hơn, các phẫu thuật viên được yêu cầu xử trí đau bụng mạn tính hoặc tái diễn, táo bón mạn tính, chảy máu trực tràng hoặc sa trực tràng. Nhiều trẻ trong số này biểu hiện đầu tiên với bác sĩ nhi khoa và sau đó được chuyển đến phẫu thuật viên nhi khoa khi có điều kiện.
Quan trọng là, có một loạt các vấn đề tiết niệu xảy ra đặc hiệu ở trẻ nhũ nhi và trẻ nhỏ. Hầu hết là đặc thù cho người bệnh nhỏ tuổi và được xử trí bởi các phẫu thuật viên nhi khoa chuyên sâu hoặc bác sĩ tiết niệu nhi; hầu hết các bất thường đường tiết niệu đáng kể hiện nay đều có thể được phát hiện trước sinh.
Các vấn đề về vùng bẹn và cơ quan sinh dục nam
Phôi thai học
Tuyến sinh dục chưa biệt hóa (tức là buồng trứng hoặc tinh hoàn) bắt đầu phát triển vào tuần thứ năm tại gờ sinh dục, một phần của gờ niệu dục trung bì, nơi sau này cũng sẽ hình thành thận, niệu quản và các ống sinh dục ở nam giới hoặc tử cung và vòi tử cung ở nữ giới. Tại cực dưới của tinh hoàn đang phát triển, một dải trung mô trở thành dây chằng dẫn tinh (gubernaculum) dạng thừng. Vào tuần thứ tám, một phần kéo dài của phúc mạc, gọi là ống phúc tinh mạc (processus vaginalis), xuất hiện bên cạnh dây chằng dẫn tinh (hoặc dây chằng tròn) và mở rộng vào nếp bẹn-bìu. Sau đó, tinh hoàn di chuyển về phía xa dọc theo ống phúc mạc này.
Thoát vị và các vấn đề liên quan
Ống phúc tinh mạc thường tự đóng lại ngay sau khi sinh. Sự tồn tại dai dẳng của ống này gây ra ba vấn đề phổ biến ở bé trai: còn ống phúc tinh mạc (PPV), tràn dịch màng tinh hoàn (hydrocele), và thoát vị bẹn; bất kỳ tình trạng nào trong số này đều có thể biểu hiện dưới dạng các khối phồng ở bẹn hoặc bìu, thường gặp ở trẻ nhũ nhi và trẻ mẫu giáo (Hình 50.1).
Còn ống phúc tinh mạc (Patent processus vaginalis)
Thuật ngữ này nên được dành riêng cho các trường hợp tràn dịch màng tinh hoàn có thông thương với khoang phúc mạc qua một tàn tích quá hẹp để ruột có thể chui lọt. Trẻ em bị tràn dịch màng tinh hoàn thể thông thương này biểu hiện với tình trạng bìu sưng to tăng lên trong ngày do dịch phúc mạc tích tụ và giảm đi vào ban đêm. Nếu tình trạng này kéo dài sau sinh nhật thứ hai, phương pháp điều trị là phẫu thuật cắt bỏ tàn tích phúc mạc bằng cách thắt ống phúc tinh mạc (PPV) này (xem phần sau). Hầu hết các trường hợp tự ổn định trước 2 tuổi.
Tràn dịch màng tinh hoàn (Hydrocele)
Tràn dịch màng tinh hoàn không thông thương chủ yếu gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (Hình 50.2). Loại thường gặp là một khối phồng ở bìu, do sự tái hấp thu không hoàn toàn dịch từ bên trong tinh mạc (tunica vaginalis – bao quanh tinh hoàn) sau khi ống phúc tinh mạc đã đóng (tại mức bẹn). Có thể có một khối thoát vị riêng biệt hiện diện kèm theo. Những trường hợp được gọi là tràn dịch màng tinh hoàn tiên phát này đôi khi xuất hiện sau một đợt nhiễm virus vài tuần. Hiếm khi, tràn dịch màng tinh hoàn thứ phát là kết quả của chấn thương hoặc xoắn tinh hoàn, viêm mào tinh hoàn hoặc khối u tinh hoàn.
Khi thăm khám, có một khối phồng chứa dịch bao quanh một tinh hoàn bình thường; túi dịch thấu quang mạnh (sáng rực), và có thể sờ thấy tinh hoàn ở phía sau (nhưng lưu ý rằng ruột của trẻ sơ sinh rất mỏng và cũng có thể thấu quang mạnh khi nằm trong túi thoát vị). Ngón tay của người khám có thể “chặn được phía trên” khối phồng (tức là nó không thông thương với vùng bẹn). Siêu âm có thể được sử dụng để làm rõ chẩn đoán. Tràn dịch màng tinh hoàn cũng xảy ra ở thừng tinh (nang thừng tinh) hoặc ở dây chằng tròn ở bé gái, nơi chúng được gọi là nang ống Nuck (hydrocele of the canal of Nuck). Hầu hết các trường hợp tràn dịch màng tinh hoàn tự khỏi trong khoảng từ 18 đến 24 tháng tuổi. Tràn dịch màng tinh hoàn tồn tại quá 2 tuổi hoặc xuất hiện muộn hơn có thể cần phẫu thuật.

Hình 50.1 Các bất thường liên quan đến ống phúc tinh mạc. PPV: Còn ống phúc tinh mạc. (A) Bình thường; (B) Tràn dịch màng tinh hoàn; (C) Tràn dịch màng tinh hoàn thể thông thương (PPV); (D) Thoát vị bẹn; (E) Nang thừng tinh.

Hình 50.2 Tràn dịch màng tinh hoàn. Bé trai 11 tháng tuổi này có bìu to, được xác nhận bằng nghiệm pháp thấu quang là do tràn dịch màng tinh hoàn.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ