Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Nội tiết học Bà mẹ – Thai Nhi và Sơ Sinh (Ấn bản thứ 2, 2026). CHƯƠNG 12. ĐIỀU HÒA NỘI TIẾT TỐ CỦA CHU KỲ KINH NGUYỆT VÀ SỰ RỤNG TRỨNG

40 phút đọc

Nội tiết học Bà mẹ – Thai Nhi và Sơ Sinh: Sinh Lý, Sinh Lý Bệnh và Xử Trí Lâm Sàng (Ấn bản thứ 2, 2026). 
Dịch và Chú giải tiếng Việt:
Ths.Bs. Lê Đình Sáng

Maternal-Fetal and Neonatal Endocrinology: Physiology, Pathophysiology, and Clinical Management, 2nd Edition
Imprint: Academic Press. Editors: Christopher S. Kovács, Cheri L. Deal.
Ấn bản tiếng Việt của cuốn sách này là một dự án phi lợi nhuận, được xuất bản duy nhất trên các website yhoclamsang.net và sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM.


CHƯƠNG 12. ĐIỀU HÒA NỘI TIẾT TỐ CỦA CHU KỲ KINH NGUYỆT VÀ SỰ RỤNG TRỨNG

Cathy M. Murray và Christine J. Orr

Phân khoa Nội tiết và Chuyển hóa, Khoa Y, Đại học Memorial Newfoundland, St. John’s, NL, Canada

Hormonal Regulation of the Menstrual Cycle and Ovulation
Maternal-Fetal and Neonatal Endocrinology, Chapter 12, 171-180

 

ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG

Sự tiết GnRH theo nhịp (pulsatile secretion) với một tần số và biên độ cụ thể là điều kiện bắt buộc để tuyến yên tiết các gonadotropin bình thường.

Estradiol, progesterone và inhibin từ buồng trứng, cùng với activin và follistatin từ tuyến yên, điều hòa sự bài tiết LH và FSH.

Nồng độ estradiol thấp ở giai đoạn đầu của pha nang noãn (follicular phase), bắt đầu tăng chậm khoảng 1 tuần trước khi rụng trứng, và đạt đỉnh vào giữa chu kỳ, cùng với sự rụng trứng và nồng độ đỉnh của LH và FSH.

Buồng trứng tạo ra một noãn có khả năng thụ tinh; nang noãn giải phóng ra noãn đó (hoàng thể – corpus luteum) trở thành nguồn cung cấp steroid sinh dục chủ yếu trong nửa sau của chu kỳ.

Nếu quá trình thụ tinh không diễn ra, hoàng thể sẽ thoái hóa, nồng độ estradiol và progesterone giảm xuống, và lớp mô nội mạc tử cung chức năng sẽ bong tróc ra ngoài.

Nếu quá trình thụ thai xảy ra, nội mạc tử cung được duy trì bởi progesterone, cho phép phôi thai làm tổ thành công và quá trình mang thai diễn ra.

12.1 Giới Thiệu

Sự phối hợp chức năng của vùng dưới đồi (hypothalamus), tuyến yên (pituitary), buồng trứng (ovaries) và nội mạc tử cung (endometrium) điều hòa sự rụng trứng và chu kỳ kinh nguyệt. Những thay đổi có tính chu kỳ của các gonadotropin tuyến yên và hormone steroid kích thích những thay đổi ở buồng trứng để phối hợp quá trình trưởng thành của nang noãn (follicle maturation), sự rụng trứng và sự phát triển của hoàng thể (corpus luteum). Những thay đổi theo chu kỳ tương tự ở nội mạc tử cung chuẩn bị cho sự làm tổ của phôi thai đang phát triển hoặc sự bong tróc của lớp nội mạc tử cung trong kỳ kinh nguyệt nếu quá trình mang thai không xảy ra.

12.2 Chức Năng Của Vùng Dưới Đồi

Vùng dưới đồi chịu trách nhiệm tiết hormone giải phóng gonadotropin (GnRH) theo nhịp dưới tác động ức chế ngược (negative feedback) của các yếu tố khác, bao gồm cả hormone buồng trứng. Serotonin, dopamine, norepinephrine và các opioid được sản xuất trong não có thể ảnh hưởng đến quá trình điều hòa bài tiết GnRH.

GnRH được tổng hợp trong các thân tế bào thần kinh của nhân cung (arcuate nucleus) thuộc vùng dưới đồi cơ sở giữa. Các sợi trục từ những tế bào thần kinh này phóng chiếu đến lồi giữa (medial eminence) và tận cùng ở các mao mạch đổ vào tĩnh mạch cửa. Hệ thống vận chuyển lưu lượng thấp này dọc theo cuống tuyến yên kết nối vùng dưới đồi với thùy trước tuyến yên, hình thành nên tuần hoàn cửa tuyến yên (hypophyseal portal circulation). GnRH di chuyển đến thùy trước tuyến yên, tại đây nó liên kết với các thụ thể tế bào đích trên các tế bào hướng sinh dục của tuyến yên (pituitary gonadotrophs), kích thích giải phóng hai gonadotropin là hormone tạo hoàng thể (LH) và hormone kích thích nang noãn (FSH).

Sự tiết GnRH theo nhịp với một tần số và biên độ cụ thể là cần thiết để tiết gonadotropin bình thường. Nhịp đập của GnRH và theo đó là sự tiết gonadotropin đóng vai trò tối quan trọng trong việc kiểm soát hoạt động của tuyến sinh dục và trục sinh sản. Khả năng của GnRH trong việc điều hòa tăng (upregulate) các thụ thể của nó trên các tế bào hướng sinh dục tuyến yên đòi hỏi một chu kỳ sinh lý từ 60-90 phút, trong khi tần số chậm hơn hoặc nhanh hơn đều dẫn đến tình trạng không rụng trứng (anovulation). Tính chất theo nhịp của GnRH cũng chịu trách nhiệm kích hoạt sự biểu hiện gen của các tiểu đơn vị gonadotropin, sự nhị phân hóa (dimerization) của các tiểu đơn vị và quá trình glycosyl hóa trong các tế bào hướng sinh dục.

Tần số xung GnRH chịu trách nhiệm cho những thay đổi về nồng độ và tỷ lệ FSH, LH, cũng như chức năng buồng trứng trong suốt hai giai đoạn của chu kỳ kinh nguyệt (Hình 12.1A). Tần số xung GnRH nhanh hơn thúc đẩy bài tiết LH, trong khi tần số xung chậm hơn lại thúc đẩy bài tiết FSH. Sự biến thiên trong tần số xung GnRH một phần được điều hòa bởi cơ chế phản hồi của hormone steroid buồng trứng. Tần số xung GnRH tăng lên bởi estradiol và giảm xuống bởi progesterone. Estradiol phản hồi lên GnRH để ức chế cả FSH và LH, nhưng đồng thời cũng phối hợp tạo ra một đợt tăng vọt LH trước khi rụng trứng (preovulatory surge in LH) (Hình 12.1B).

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ