Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Nội tiết học Bà mẹ – Thai Nhi và Sơ Sinh (Ấn bản thứ 2, 2026). CHƯƠNG 15. VÔ KINH DO CHO CON BÚ THỜI KỲ HẬU SẢN VÀ SỰ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG SINH SẢN VÀ KINH NGUYỆT RỤNG TRỨNG BÌNH THƯỜNG

31 phút đọc

Nội tiết học Bà mẹ – Thai Nhi và Sơ Sinh: Sinh Lý, Sinh Lý Bệnh và Xử Trí Lâm Sàng (Ấn bản thứ 2, 2026). 
Dịch và Chú giải tiếng Việt:
Ths.Bs. Lê Đình Sáng

Maternal-Fetal and Neonatal Endocrinology: Physiology, Pathophysiology, and Clinical Management, 2nd Edition
Imprint: Academic Press. Editors: Christopher S. Kovács, Cheri L. Deal.
Ấn bản tiếng Việt của cuốn sách này là một dự án phi lợi nhuận, được xuất bản duy nhất trên các website yhoclamsang.net và sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM.


CHƯƠNG 15. VÔ KINH DO CHO CON BÚ THỜI KỲ HẬU SẢN VÀ SỰ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG SINH SẢN VÀ KINH NGUYỆT RỤNG TRỨNG BÌNH THƯỜNG

Jerilynn C. Prior

Trung tâm Nghiên cứu Chu kỳ Kinh nguyệt và Sự Rụng trứng, Khoa Nội tiết, Bộ môn Nội khoa, Đại học British Columbia, Vancouver, BC, Canada: Trường Y tế Công cộng và Dân số, Đại học British Columbia, Vancouver, BC, Canada; Viện Nghiên cứu Sức khỏe Phụ nữ BC, Vancouver, BC, Canada.

ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG

Tình trạng vô kinh do cho con bú thời kỳ hậu sản (postpartum lactational amenorrhea) rất đa dạng ở các quần thể và nền văn hóa khác nhau nhưng phục vụ một số mục đích: cung cấp dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh, đảm bảo giảm khả năng thụ thai (fecundability), và duy trì cân bằng năng lượng của người mẹ.

Sự phục hồi từ tình trạng vô kinh do cho con bú liên quan đến nhiều yếu tố: tần suất và thời gian cho con bú, việc cho con bú như là nguồn dinh dưỡng duy nhất cho trẻ, nồng độ prolactin, tuổi mẹ hoặc số lần sinh, và những yếu tố khác chưa được mô tả rõ. Hiện tượng rụng trứng xảy ra trước lần hành kinh đầu tiên trong 8% – 33% các trường hợp, nhưng tính toàn vẹn và khả năng thụ thai của lần rụng trứng đó chưa được ghi nhận rõ ràng.

Phụ nữ đã được chứng minh rõ ràng là được bảo vệ khỏi bệnh loãng xương (osteoporosis) trong thời kỳ vô kinh do cho con bú bất chấp việc sụt cân và nhu cầu gia tăng do việc chăm sóc một đứa trẻ sơ sinh hoàn toàn phụ thuộc vào mẹ. Nguyên nhân vẫn còn chưa rõ nhưng có thể liên quan đến các xung tiết progesterone ngắn hạn tăng lên mức tương đương với giai đoạn hoàng thể (luteal phase) hoặc nồng độ progesterone trong giai đoạn hoàng thể có thể cao hơn so với nhóm chứng. Cần có nhiều nghiên cứu lâm sàng và dịch tễ học toàn diện hơn.

Kiểu hình phục hồi các chu kỳ kinh nguyệt có độ dài bình thường và các giai đoạn hoàng thể có độ dài bình thường, nồng độ progesterone đủ sau thời kỳ vô kinh do cho con bú có thể giống hoặc không giống với sự phục hồi sau các nguyên nhân gây vô kinh vùng dưới đồi (hypothalamic amenorrhea) khác, nhưng vẫn cần thêm các nghiên cứu tiến cứu chi tiết.

Mô Tả Về Tình Trạng Vô Kinh Do Cho Con Bú Hoặc Thời Kỳ Hậu Sản Và Tình Trạng Vô Sinh Tương Đối

Phụ nữ đã mang thai, sinh nở và cho con bú trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Từ nhiều thế kỷ nay, và bởi cả những dân tộc không có chữ viết, người ta đã biết rằng điều thông thường là một người mẹ mới sinh đang cho con bú sẽ không hành kinh trong một khoảng thời gian sau khi sinh (vô kinh do cho con bú), và cũng có một khoảng thời gian mà mặc dù có hoạt động tình dục khác giới, người phụ nữ không thể hoặc ít có khả năng mang thai (giảm khả năng thụ thai do cho con bú hoặc vô sinh). Phụ nữ săn bắt hái lượm !Kung ở sa mạc Kalahari cho con bú theo nhu cầu, và nhiều lần cả ngày lẫn đêm, trung bình trong 5 năm, tại thời điểm đó đứa trẻ nhỏ nhất đang ăn các loại thức ăn khác và người mẹ lại mang thai (Hình 15.1). Những dân tộc này không sử dụng biện pháp tránh thai và không có sữa công thức pha sẵn, vì vậy sự sống của trẻ sơ sinh phụ thuộc vào sữa mẹ. Trung bình, một người phụ nữ sẽ sinh khoảng ba người con, cách nhau khoảng 5 năm, là kết quả của việc cho con bú theo nhu cầu. Konner và Worthman, trong nghiên cứu của họ về các kiểu cho con bú của phụ nữ !Kung, đã kết luận rằng chính khoảng thời gian ngắn giữa các lần cho con bú, chứ không phải tổng số phút cho con bú mỗi ngày, mới là yếu tố quyết định sự trở lại của quá trình rụng trứng/hành kinh. Họ đưa ra giả thuyết rằng khi thời gian bán hủy của prolactin huyết thanh cho phép nó giảm xuống mức của chu kỳ kinh nguyệt bình thường/không cho con bú giữa các đợt cho con bú, thì chức năng sinh sản sẽ được kích hoạt.

Hình 15.1: Một người phụ nữ !Kung ở sa mạc Kalahari đang cõng đứa con út gần 5 tuổi của mình, cùng với chiếc gậy đào củ, cộng với một túi thực phẩm hái lượm được khi đang đi bộ khoảng 20 km/ngày. Cô ấy đang mang thai khoảng 7 tháng và vẫn đang cho đứa con út bú. (Từ Lee RB. The Kung San: men, women and work in a foraging society. London: Cambridge University Press; 1979. Được in lại với sự cho phép).

Trong cuộc sống của những người săn bắt hái lượm !Kung, phụ nữ cần đi bộ lớn hơn 20 km/ngày để tìm kiếm thảo mộc, ấu trùng và côn trùng cung cấp phần lớn lượng calo (kcal) cần thiết cho gia đình (vì săn bắn dường như là một hoạt động hiếm hoi). Vai trò của mức tiêu hao năng lượng này, sự đóng góp của việc cho bú theo nhu cầu, tình trạng giảm lượng thức ăn theo mùa đối với những người châu Phi ở vùng sa mạc này và những đóng góp của chúng đối với thời gian vô kinh và vô sinh do cho con bú là rất khó để phân định rạch ròi. Nhưng tất cả những biến số này có khả năng đều quan trọng. Ngược lại, người phụ nữ Scotland ở thế kỷ 20 được nuôi dưỡng tốt, chọn cách cho con bú bình, không có nhu cầu đi bộ quãng đường dài hàng ngày và có khả năng có chỉ số khối cơ thể (body mass index – BMI) cao hơn người phụ nữ !Kung (Hình 15.1), sẽ bắt đầu hành kinh trong vòng 2 tháng sau sinh, rụng trứng và có khả năng thụ thai trong chu kỳ sau sinh thứ hai của mình.

Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization – WHO) đã khuyến cáo phụ nữ nên nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ, không bổ sung lượng calo (kcal) từ bất kỳ nguồn nào khác, trong 6 tháng đầu đời của trẻ sơ sinh. Mục đích của chương này là xem xét lại những gì đã biết về quá trình phục hồi tổng thể, thời gian và kiểu hình phục hồi của các chu kỳ kinh nguyệt đều đặn, độ dài giai đoạn hoàng thể bình thường, và do đó là khả năng sinh sản giả định ở những phụ nữ sau sinh và đang cho con bú. Cụ thể, chương này sẽ tập trung vào việc giải đáp một câu đố hiện tại: Tại sao những tháng bị rối loạn chu kỳ kinh nguyệt và rụng trứng mang tính phổ quát liên quan đến tình trạng vô kinh do cho con bú/rối loạn rụng trứng dưới lâm sàng lại không gây mất xương có ý nghĩa lâm sàng hoặc tăng nguy cơ gãy xương? Ngược lại, mặc dù hiện tượng vô kinh là điểm chung, các rối loạn sinh sản vùng dưới đồi liên quan đến sự chưa trưởng thành của trục sinh sản ở tuổi vị thành niên, chẳng hạn như dậy thì muộn, có liên quan tiêu cực đến mật độ khoáng xương vùng (areal bone mineral density – aBMD) ở toàn bộ khớp háng. Các rối loạn vô kinh vùng dưới đồi/thiểu kinh/rối loạn rụng trứng liên quan đến sự mất cân bằng năng lượng do thể thao hoặc rối loạn ăn uống, căng thẳng tâm lý/xã hội, hoặc bệnh tật cũng được chứng minh là làm tăng nguy cơ mắc bệnh loãng xương, và tỷ lệ mất xương gia tăng được ghi nhận ngay cả ở những phụ nữ có cân nặng bình thường với chu kỳ kinh nguyệt và/hoặc sự rụng trứng bất thường bất chấp việc bổ sung đủ canxi.

Chu kỳ kinh nguyệt và các rối loạn rụng trứng trong thời kỳ cho con bú phục vụ các mục đích sinh lý quan trọng là đảm bảo đủ dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh, bảo vệ gia đình hạt nhân (mẹ-cha-con cái/các con khác) khỏi những đòi hỏi của việc có thêm một em bé đến sớm, và bảo vệ toàn bộ quần thể một cách rộng rãi hơn trong những trường hợp mà công việc của người mẹ (hái lượm thức ăn) là thiết yếu cho dinh dưỡng của toàn bộ cộng đồng, như ở người !Kung săn bắt hái lượm. Ngoài ra, có khả năng là kiểu hình phục hồi từ tình trạng ức chế sinh sản trong thời kỳ cho con bú có thể cung cấp thông tin về khả năng đảo ngược của chu kỳ kinh nguyệt và các rối loạn rụng trứng trong các hoàn cảnh khác ở phụ nữ. Do đó, sự hiểu biết mang tính động lực học về vô kinh/vô sinh do cho con bú và sự phục hồi của nó là một chủ đề quan trọng liên quan đến sức khỏe phụ nữ.

Nhân Chủng Học Và Dịch Tễ Học

Các quần thể phụ nữ khác nhau ở nhiều vùng khí hậu và khu vực trên thế giới, ở các độ cao và vĩ độ khác nhau, và với những lựa chọn khác nhau về các phương pháp nuôi trẻ sơ sinh không bằng sữa mẹ (như bú bình, sữa công thức hoặc thức ăn của con người do mẹ nhai mớm), nhu cầu năng lượng khác nhau, độ tuổi sinh con khác nhau và sự sẵn có của các biện pháp tránh thai hiệu quả sẽ có những trải nghiệm khác nhau về tình trạng vô kinh thời kỳ hậu sản hoặc do cho con bú. Cho đến nay vẫn chưa có một đánh giá có hệ thống và toàn diện nào về tất cả các biến số tiềm năng có liên quan (ví dụ: cân nặng của mẹ, nhu cầu năng lượng, và căng thẳng xã hội) có thể tương tác với sự phục hồi từ vô kinh sau sinh hoặc vô kinh do cho con bú và tình trạng vô sinh tương đối của nó. Một ví dụ về vô số các biến số có khả năng tương tác liên quan đến sự sinh sản của phụ nữ được thể hiện rõ ràng trong một đánh giá toàn diện từ năm 2009. Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu về vô kinh do cho con bú và sự phục hồi của nó đều ở những nhóm quần thể được lựa chọn rất gắt gao và báo cáo một số lượng nhỏ phụ nữ. Một trong những nghiên cứu lớn hơn là từ phụ nữ nông thôn và thành thị ở Pakistan (n=1098), nhưng phần lớn các nghiên cứu với dữ liệu tiến cứu thực tế (thay vì hồi cứu) là khá nhỏ và thường báo cáo kết quả trên ít hơn 40 phụ nữ. Mặc dù việc yêu cầu phụ nữ nhớ lại khoảng thời gian họ cho con bú có vẻ đáng ngờ, nhưng dữ liệu dịch tễ học gần đây cho thấy ký ức của những người phụ nữ 20-22 tuổi về thời gian cho con bú là khá chính xác với sai số trong khoảng 2 tuần.

Có rất nhiều sự khác biệt tinh tế (nhưng có thể quan trọng) ở những quần thể này. Ví dụ, ở phụ nữ Hồi giáo từ Pakistan, thời gian vô kinh sau sinh kéo dài trung bình hơn 3,2 tháng so với những người không cho con bú, nhưng nó được ghi nhận là ngắn khoảng 2-3 tuần ở phụ nữ Inuit cho con bú bình ở Bắc Cực thuộc Alaska. Vai trò của văn hóa trong các hoạt động cho con bú là một chủ đề không thường xuyên được nghiên cứu, nhưng Niehoff và Meister, trong một cuộc khảo sát quốc tế, đã báo cáo rằng phụ nữ Hồi giáo được kỳ vọng sẽ cho con bú trong 2 năm. Trong các xã hội khác (cũng được Niehoff và Meister báo cáo), việc kiêng quan hệ tình dục được kỳ vọng trong các khoảng thời gian khác nhau sau sinh. Cuối cùng, ở một số nhóm văn hóa khác, nếu một người phụ nữ mang thai trong khi vẫn đang cho con bú, người ta sẽ mặc định rằng cô ấy đã ngoại tình và bị trừng phạt nghiêm khắc!!

Nội Tiết Học Của Tình Trạng Vô Kinh Do Cho Con Bú Và Sự Phục Hồi

Mặc dù nồng độ estradiol và progesterone giảm đáng kể sau khi sinh, và đó là một lời giải thích đầy đủ cho tình trạng vô kinh ban đầu thời kỳ hậu sản, nhưng nội tiết học của việc tiếp tục cho con bú là một vấn đề thú vị và phức tạp và chỉ có thể được đề cập tóm tắt ở đây. Nồng độ gonadotropin khác nhau trong các phản ứng của chúng trong các quan sát tiến cứu sau sinh; nồng độ hormone kích thích nang trứng (follicle-stimulating hormone – FSH) tăng lên mức chu kỳ kinh nguyệt bình thường vào khoảng 4 tuần. Tuy nhiên, nồng độ hormone luteinizing (luteinizing hormone – LH) không phục hồi về mức bình thường khi có bằng chứng về hoạt động của nang trứng (dựa trên mức bài tiết estrogen qua nước tiểu cao hơn trong các xét nghiệm nước tiểu hàng tuần), hoặc trong lần hành kinh đầu tiên, mà chỉ tăng lên mức bình thường của chu kỳ kinh nguyệt trong các chu kỳ rụng trứng bình thường. Trong các phần sau, chúng ta sẽ tập trung đặc biệt vào các phép đo lường tiến cứu ghi nhận sự tái lập rụng trứng và độ dài giai đoạn hoàng thể bình thường sau sinh ở phụ nữ cho con bú và không cho con bú.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ