Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Nội tiết học Bà mẹ – Thai Nhi và Sơ Sinh (Ấn bản thứ 2, 2026). CHƯƠNG 20. NHÂN TUYẾN GIÁP VÀ UNG THƯ TUYẾN GIÁP TRONG THAI KỲ VÀ THỜI KỲ CHO CON BÚ

68 phút đọc

Nội tiết học Bà mẹ – Thai Nhi và Sơ Sinh: Sinh Lý, Sinh Lý Bệnh và Xử Trí Lâm Sàng (Ấn bản thứ 2, 2026). 
Dịch và Chú giải tiếng Việt:
Ths.Bs. Lê Đình Sáng

Maternal-Fetal and Neonatal Endocrinology: Physiology, Pathophysiology, and Clinical Management, 2nd Edition
Imprint: Academic Press. Editors: Christopher S. Kovács, Cheri L. Deal.
Ấn bản tiếng Việt của cuốn sách này là một dự án phi lợi nhuận, được xuất bản duy nhất trên các website yhoclamsang.net và sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM.


CHƯƠNG 20. NHÂN TUYẾN GIÁP VÀ UNG THƯ TUYẾN GIÁP TRONG THAI KỲ VÀ THỜI KỲ CHO CON BÚ

Christopher W. Rowe1, Kristien Boelaert2 và Roger Smith3

1Khoa Nội tiết, Bệnh viện John Hunter, Newcastle, NSW, Úc; Trường Y học và Y tế Công cộng, Đại học Newcastle, Callaghan, NSW, Úc; Viện Nghiên cứu Sức khỏe Ứng dụng, Trường Y khoa và Nha khoa, Đại học Birmingham, Birmingham, Vương quốc Anh; 2Bệnh viện John Hunter, New Lambton Heights, NSW, Úc; 3Viện Nghiên cứu Y khoa Hunter, New Lambton Heights, NSW, Úc; Chương trình Nghiên cứu Mẹ và Bé, New Lambton Heights, NSW, Úc; Khoa Y tế, Y khoa và Chăm sóc Sức khỏe, Đại học Newcastle, Callaghan, NSW, Úc.

CÁC VẤN ĐỀ LÂM SÀNG THƯỜNG GẶP

• Các nhân tuyến giáp (Thyroid nodules) phát hiện trong thai kỳ rất phổ biến và cần được đánh giá có cấu trúc, tính đến các hoàn cảnh đặc biệt của thai kỳ.

• Tỷ lệ sống sót ở những bệnh nhân ung thư tuyến giáp (Thyroid cancers) được chẩn đoán trong thai kỳ tương tự như quần thể không mang thai, mặc dù dữ liệu quan sát cho thấy tỷ lệ tái phát tại vùng cục bộ gia tăng ở những bệnh nhân này.

• Thời điểm khảo sát các nhân tuyến giáp và việc cân nhắc phẫu thuật đối với ung thư tuyến giáp trong thai kỳ cần tính đến giai đoạn của thai kỳ và mức độ ác tính của bệnh.

• Một bệnh ung thư tuyến giáp biệt hóa (Differentiated thyroid cancer) mới được chẩn đoán mà không có các đặc điểm nguy cơ cao thường có thể được quản lý bảo tồn trong suốt thai kỳ, và tiến hành phẫu thuật vào thời kỳ hậu sản.

• Việc chủ động theo dõi (Active surveillance) vi ung thư thể nhú (Papillary microcarcinoma) trong thai kỳ ngày càng được báo cáo nhiều, tuy nhiên dữ liệu về kết cục dài hạn vẫn còn thiếu.

• Những người sống sót sau ung thư tuyến giáp nên được tư vấn cụ thể trước khi mang thai và theo dõi trong suốt quá trình sinh nở tùy theo tình trạng bệnh, nhưng nhìn chung đều có kết cục sản khoa và ung thư học thuận lợi.

20.1 Giới Thiệu

Nhân tuyến giáp và ung thư tuyến giáp là những bệnh lý nội tiết phổ biến có thể làm phức tạp thai kỳ. Có nhiều ưu tiên trong việc quản lý lâm sàng sẽ thay đổi tùy thuộc vào bối cảnh lâm sàng (trước khi mang thai, trong thai kỳ hoặc thời kỳ hậu sản), những điều này được tóm tắt trong Hình 20.1. Các bác sĩ lâm sàng cung cấp dịch vụ chăm sóc cho phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có tiền sử y khoa mắc bệnh lý nhân tuyến giáp hoặc ung thư tuyến giáp nên lường trước các vấn đề quản lý có thể phát sinh trong lần mang thai tới, đồng thời thiết lập các mục tiêu điều trị dựa trên sự hợp tác với bệnh nhân, gia đình của họ và đội ngũ chăm sóc đa chuyên khoa rộng lớn hơn.

20.2 Dịch Tễ Học Của Bệnh Lý Nhân Tuyến Giáp Và Ung Thư Tuyến Giáp

20.2.1 Bệnh Lý Nhân Tuyến Giáp

Các nhân tuyến giáp hầu như chỉ phát sinh từ biểu mô nang tuyến giáp. Đại đa số các nhân tuyến giáp là lành tính và đại diện cho sự phát triển đa dòng của các tế bào nang tuyến giáp. Hầu hết các nhân tuyến giáp sản xuất hormone tuyến giáp dưới sự điều hòa của hormone kích thích tuyến giáp có nguồn gốc từ tuyến yên (Thyroid Stimulating Hormone – TSH). Một tỷ lệ nhỏ các nhân tuyến giáp biểu hiện sự sản xuất tự chủ của hormone tuyến giáp, điều này hầu như luôn luôn là một dấu hiệu lành tính (xem Chương 19: Các Rối Loạn Tuyến Giáp Trong Thai Kỳ, Hậu Sản Và Thời Kỳ Cho Con Bú).

Vì những lý do mà đến nay vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn, các nhân tuyến giáp thường phổ biến hơn ở phụ nữ và gia tăng theo độ tuổi, một mô hình được quan sát thấy trên mọi sắc tộc và các tình trạng sẵn có i-ốt. Sự tiếp xúc ngày càng tăng với các hormone sinh dục nữ có liên quan đến việc tăng hình thành các nhân tuyến giáp. Ví dụ, mãn kinh muộn hơn, thời gian sinh sản kéo dài hơn và sinh nhiều con (Multiparity) có liên quan đến việc gia tăng số lượng nhân tuyến giáp trong một nghiên cứu dựa trên cộng đồng quy mô lớn từ Trung Quốc. Việc sinh nhiều con một lần nữa được chứng minh là có liên quan đến việc gia tăng bệnh lý nhân tuyến giáp trong một nghiên cứu từ Đức, và có thể trở nên trầm trọng hơn do tình trạng thiếu hụt i-ốt. Bệnh lý nhân tuyến giáp cũng có liên quan đến sự hiện diện của u xơ tử cung (Uterine fibroids). Việc sử dụng thuốc tránh thai đường uống hiện tại hoặc trước đây có liên quan đến việc giảm thể tích tuyến giáp trong một nghiên cứu đơn lẻ, mặc dù không tìm thấy sự khác biệt nào về tình trạng nhân tuyến giáp.

Hình 20.1 Các vấn đề quản lý đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ liên quan đến ung thư tuyến giáp và giai đoạn chăm sóc thai kỳ. (Mô tả hình ảnh bằng văn bản: Trước khi mang thai: – Đánh giá tình trạng ung thư (Cân nhắc nhu cầu điều trị trong tương lai).

  • Lên kế hoạch mang thai (Kế hoạch sử dụng Levothyroxine; Thời điểm sau khi điều trị i-ốt phóng xạ).
  • Đánh giá tác động của điều trị.

Trong thai kỳ:

  • Chẩn đoán mới (Nhân tuyến giáp; Ung thư tuyến giáp).
  • Theo dõi tình trạng ung thư (Đang lui bệnh; Không lui bệnh).

Sau khi mang thai:

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ