Nội tiết học Bà mẹ – Thai Nhi và Sơ Sinh: Sinh Lý, Sinh Lý Bệnh và Xử Trí Lâm Sàng (Ấn bản thứ 2, 2026).
Dịch và Chú giải tiếng Việt: Ths.Bs. Lê Đình Sáng
Maternal-Fetal and Neonatal Endocrinology: Physiology, Pathophysiology, and Clinical Management, 2nd Edition
Imprint: Academic Press. Editors: Christopher S. Kovács, Cheri L. Deal.
Ấn bản tiếng Việt của cuốn sách này là một dự án phi lợi nhuận, được xuất bản duy nhất trên các website yhoclamsang.net và sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM.
CHƯƠNG 22. ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ VÀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 TRONG THAI KỲ
Rachel Bond và Tricia M. Peters1
1Đại học McGill, Montreal, QC, Canada
|
Các Vấn Đề Lâm Sàng Thường Gặp |
|---|
| • Tỷ lệ hiện mắc của đái tháo đường thai kỳ (Gestational Diabetes Mellitus – GDM) và đái tháo đường týp 2 (Type 2 Diabetes Mellitus – T2DM) trong thai kỳ đã tăng gấp đôi trong 2 thập kỷ qua và vẫn tiếp tục gia tăng.
• Phụ nữ bị rối loạn đường huyết trong thai kỳ (Dysglycemia In Pregnancy – DIP) có nguy cơ cao bị tiền sản giật (Preeclampsia) và tăng huyết áp thai kỳ (Gestational Hypertension), đồng thời trẻ sơ sinh của họ cũng có nguy cơ cao gặp phải các kết cục sơ sinh bất lợi. • Có một mối quan hệ liên tục giữa mức glucose và tỷ lệ các kết cục bất lợi ở phụ nữ mắc rối loạn đường huyết trong thai kỳ và con cái của họ. • Phụ nữ mắc đái tháo đường týp 2 trong thai kỳ có tỷ lệ tử vong chu sinh cao hơn và tỷ lệ dị tật bẩm sinh (Congenital Anomalies) tương đương so với phụ nữ mắc đái tháo đường týp 1 (Type 1 Diabetes Mellitus – T1DM). • Metformin và glyburide không gây quái thai và có thể được sử dụng cùng với insulin ở phụ nữ mắc đái tháo đường týp 2 khi có kế hoạch mang thai; tuy nhiên, các loại thuốc khác, chẳng hạn như các thuốc hạ đường huyết đường uống và dạng tiêm khác, thuốc ức chế men chuyển (Angiotensin-Converting Enzyme Inhibitors – ACEi), thuốc chẹn thụ thể angiotensin (Angiotensin-Receptor Blockers – ARBs), và statin, nên được ngừng sử dụng trước khi mang thai. • Để làm giảm nguy cơ tiền sản giật, aspirin nên được chỉ định cho phụ nữ mắc đái tháo đường từ trước thai kỳ chậm nhất là ở tuần lễ thứ 16 của thai kỳ. |
22.1 Đái Tháo Đường Thai Kỳ
22.1.1 Dịch tễ học
Đái tháo đường thai kỳ (Gestational Diabetes Mellitus – GDM) là một tình trạng bệnh lý trong đó sự tăng đường huyết (Hyperglycemia) phát triển do tuyến tụy không có khả năng vượt qua tình trạng kháng insulin (Insulin Resistance) của thai kỳ. Tỷ lệ mắc mới của đái tháo đường thai kỳ ở Hoa Kỳ dao động từ 6% đến 16%, tùy thuộc vào tiêu chuẩn sàng lọc và chẩn đoán được sử dụng cũng như sự phân bố sắc tộc của quần thể. Theo bản đồ đái tháo đường của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (International Diabetes Federation – IDF), tỷ lệ hiện mắc toàn cầu của đái tháo đường thai kỳ khi áp dụng tiêu chuẩn của Nhóm Nghiên cứu Quốc tế về Đái tháo đường và Thai kỳ (International Association of Diabetes and Pregnancy Study Groups – IADPSG) là 14%, nhưng dao động từ 7% đến 27% tùy thuộc vào quốc gia được đánh giá. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu trên những phụ nữ béo phì ở Châu Âu (chỉ số khối cơ thể [Body Mass Index – BMI] ≥ 29 kg/m²) sử dụng tiêu chuẩn từ IADPSG, tỷ lệ hiện mắc của đái tháo đường thai kỳ là 39%, và tỷ lệ hiện mắc đái tháo đường thai kỳ cũng cao hơn ở các phụ nữ gốc Tây Ban Nha, người Mỹ gốc Phi, người Mỹ bản địa, người dân đảo Thái Bình Dương, người thổ dân, người Trung Đông, và phụ nữ Đông và Nam Á so với người da trắng.
Hơn nữa, tỷ lệ mắc mới của đái tháo đường thai kỳ đang gia tăng trên toàn thế giới, và một nghiên cứu dựa trên quần thể gần đây ở Ontario đã báo cáo rằng tỷ lệ mắc mới đái tháo đường thai kỳ đã tăng gấp đôi trong khoảng thời gian từ năm 1996 đến năm 2010. Một số yếu tố bao gồm tuổi mẹ ngày càng tăng, tỷ lệ béo phì cao hơn, những thay đổi trong chế độ ăn uống và lối sống, sự khác biệt trong thực hành sàng lọc, và sự thay đổi trong tiêu chuẩn chẩn đoán có khả năng góp phần vào sự gia tăng tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ.
22.1.2 Sinh lý bệnh
Những phụ nữ tiến triển thành đái tháo đường thai kỳ có một khiếm khuyết ở tế bào beta tuyến tụy (Pancreatic Beta-Cell Defect) và không thể bù đắp lại sự gia tăng tình trạng kháng insulin của thai kỳ. Có bằng chứng cho thấy khiếm khuyết này có khả năng đã xuất hiện từ trước khi mang thai, nhưng biểu hiện rõ ràng trong thai kỳ do sự gia tăng kháng insulin. Khiếm khuyết này dẫn đến việc không thể sản xuất đủ lượng insulin để duy trì mức glucose bình thường, dẫn đến tình trạng tăng đường huyết ở người mẹ. Glucose của mẹ sau đó được chuyển qua nhau thai đến thai nhi và kích thích tình trạng tăng insulin máu ở thai nhi (Fetal Hyperinsulinemia) cũng như sự phát triển quá mức của thai nhi, nếu không được điều trị có thể gây ra hạ đường huyết sơ sinh (Neonatal Hypoglycemia) và chứng thai to (Macrosomia). Hơn nữa, phụ nữ mắc đái tháo đường thai kỳ có thể có một khiếm khuyết tế bào beta tiến triển, tạo khuynh hướng cho những phụ nữ này mắc đái tháo đường týp 2 trong thời kỳ hậu sản và trong suốt cuộc đời. Cùng với bản thân thai kỳ, các yếu tố góp phần vào khiếm khuyết tế bào beta này bao gồm béo phì, viêm, lối sống ít vận động, tính nhạy cảm di truyền, những thay đổi biểu sinh (Epigenetic Changes), các hóa chất gây rối loạn nội tiết, và sự lão hóa.
22.1.3 Các Kết cục Thai kỳ Bất lợi Liên quan đến Đái tháo đường Thai kỳ
Nghiên cứu Tăng đường huyết và Các Kết cục Thai kỳ Bất lợi (Hyperglycemia and Adverse Pregnancy Outcomes – HAPO), một nghiên cứu đa trung tâm, quy mô lớn, đã chứng minh một mối quan hệ liên tục giữa mức glucose của mẹ và bốn kết cục chính: sinh mổ (Cesarean Delivery), cân nặng lúc sinh > bách phân vị thứ 90 (trẻ to so với tuổi thai [Large for Gestational Age – LGA]), hạ đường huyết sơ sinh trên lâm sàng, và tăng insulin máu ở thai nhi. Phụ nữ mắc đái tháo đường thai kỳ cũng có nguy cơ cao mắc các rối loạn tăng huyết áp trong thai kỳ, bao gồm tiền sản giật (Preeclampsia) và tăng huyết áp thai kỳ. Trong nghiên cứu HAPO, 5,9% phụ nữ mắc đái tháo đường thai kỳ tiến triển thành tăng huyết áp thai kỳ và 4,8% bị tiền sản giật. Các kết cục sơ sinh bất lợi khác ở phụ nữ mắc đái tháo đường thai kỳ bao gồm thai to, kẹt vai (Shoulder Dystocia), chấn thương sản khoa (Birth Trauma), hội chứng suy hô hấp (Respiratory Distress Syndrome) và tăng bilirubin máu (Hyperbilirubinemia). Hơn nữa, tình trạng béo phì ở mẹ và đái tháo đường thai kỳ có tác dụng cộng gộp đối với các tác động của chúng lên kết cục sơ sinh. Trong nghiên cứu HAPO, cả đái tháo đường thai kỳ và béo phì ở mẹ đều liên quan độc lập với tình trạng trẻ to so với tuổi thai, sinh mổ lần đầu, tiền sản giật, nồng độ c-peptide trong máu cuống rốn tăng cao, và tỷ lệ phần trăm mỡ cơ thể của trẻ sơ sinh > bách phân vị thứ 90. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa đái tháo đường thai kỳ và béo phì ở mẹ làm tăng những nguy cơ này vượt trên mức của từng yếu tố đơn độc.
22.1.4 Sàng lọc Đái tháo đường Thai kỳ
Các yếu tố nguy cơ của đái tháo đường thai kỳ bao gồm tiền sử gia đình mắc đái tháo đường týp 2, thuộc một trong những nhóm sắc tộc nguy cơ cao đã đề cập ở trên, tuổi mẹ > 35 tuổi, BMI trước khi mang thai > 30 kg/m², tiền sử mắc đái tháo đường thai kỳ trước đó, tiền sử sinh con nặng > 4 kg, và/hoặc tiền sử cá nhân mắc tiền đái tháo đường (Prediabetes), hội chứng buồng trứng đa nang (Polycystic Ovarian Syndrome – PCOS) hoặc bệnh gai đen (Acanthosis Nigricans). Do có quá nhiều yếu tố nguy cơ đối với đái tháo đường thai kỳ, có mối lo ngại rằng việc sàng lọc dựa trên yếu tố nguy cơ sẽ khó áp dụng và sẽ dẫn đến việc bỏ sót nhiều trường hợp đái tháo đường thai kỳ, đó là lý do tại sao hầu hết các hướng dẫn quốc tế đều khuyến cáo sàng lọc đái tháo đường thai kỳ toàn nguyên (Universal Screening) cho tất cả phụ nữ mang thai trong khoảng thời gian từ tuần 24-28 của thai kỳ.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ