PHẪU THUẬT TUYẾN GIÁP VÀ TUYẾN CẬN GIÁP, ẤN BẢN THỨ 3.
Chủ biên: Gregory W. Randolph MD FACS FACE – Nhà xuất bản Elsevier (2022). Dịch và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng.
Bản dịch vì mục đích phi lợi nhuận. Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website sachyhoc.com và yhoclamsang.net
CHƯƠNG 64. UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN CẬN GIÁP
Parathyroid Carcinoma
Rita Y.K. Chang; Brian H.H. Lang
Surgery of the Thyroid and Parathyroid Glands, 64, 591-596
Vui lòng truy cập ebooks.health.elsevier.com để xem video liên quan:
Video 64.1 Ung thư Tuyến cận giáp: Các Nguyên tắc Quản lý với một Ca lâm sàng minh hoạ
BỐI CẢNH
Ung thư biểu mô tuyến cận giáp (parathyroid carcinoma – PC) là một nguyên nhân hiếm gặp nhưng nguy hiểm gây ra tình trạng cường tuyến cận giáp nguyên phát (primary hyperparathyroidism – HPT). Bệnh lý này chiếm dưới 1% các trường hợp HPT nguyên phát. Trong một nghiên cứu hồi cứu trên hai nhóm bệnh nhân HPT nguyên phát ở Châu Âu từ năm 2005 đến 2014, tỷ lệ mắc mới ung thư tuyến cận giáp ở bệnh nhân HPT lần lượt là 0,3% và 2,1%. Sự khác biệt này có lẽ liên quan đến các sai số chọn lọc và sai số chuyển tuyến. Trong một tổng quan hệ thống (systematic review) trên 22.225 ca HPT nguyên phát được báo cáo từ năm 1995 đến 2003, ung thư tuyến cận giáp chiếm 0,74%. Thú vị là, tỷ lệ mắc mới được báo cáo dường như cao hơn ở một số quốc gia, như Nhật Bản và Ý (khoảng 5%). Tại Châu Âu, tỷ lệ mắc mới được báo cáo là 1,25 đến 2,0 ca trên 10.000.000 người. Trong dữ liệu của sổ xố đăng ký ung thư SEER (Surveillance, Epidemiology, and End Results) từ năm 2000 đến 2012, tỷ lệ mắc mới là 0,41. Do tính chất hiếm gặp và sự thiếu hụt các loạt ca bệnh được công bố với quy mô lớn, chúng ta vẫn chưa hiểu rõ về diễn tiến tự nhiên cũng như các ý nghĩa tiên lượng của bệnh lý này. Ngoài ra, vẫn chưa có sự đồng thuận rõ ràng về chiến lược quản lý và theo dõi bệnh (xem Chương 65 Giải phẫu bệnh Ngoại khoa của Tuyến cận giáp).
Mặc dù HPT nguyên phát thường liên quan đến nữ giới nhiều hơn (4:1), nhưng không có sự khác biệt về giới tính trong ung thư tuyến cận giáp. Nam giới có thể có tiên lượng xấu hơn đôi chút. Bệnh thường được chẩn đoán sau tuổi 30, và độ tuổi chẩn đoán trung bình là 50 tuổi, sớm hơn 10 năm so với u tuyến cận giáp lành tính (benign parathyroid adenomas).
CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ CĂN NGUYÊN
Căn nguyên của ung thư tuyến cận giáp phần lớn vẫn chưa được biết rõ. Một vài yếu tố nguy cơ đã được xác định dựa trên các nghiên cứu dịch tễ học; tuy nhiên, các cơ chế và mối quan hệ nhân quả vẫn chưa được thấu hiểu đầy đủ. Gần đây, một số tiến bộ trong sinh học phân tử đã làm sáng tỏ cơ chế bệnh sinh (pathogenesis) có thể có của ung thư tuyến cận giáp. Các yếu tố nguy cơ lâm sàng được điểm lại dưới đây.
Tiền Sử Tia Xạ Vùng Cổ
Giống như nhiều loại ung thư khác, phơi nhiễm với bức xạ ion hóa (ionizing radiation exposure) đã được coi là một nguyên nhân hoặc yếu tố nguy cơ đối với ung thư tuyến cận giáp. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng phần lớn bệnh nhân mắc ung thư tuyến cận giáp dường như không có bất kỳ tiền sử phơi nhiễm bức xạ nào ở vùng đầu và cổ trước đó.
Suy Thận Mạn
Một số báo cáo đã chỉ ra suy thận mạn (chronic renal failure) là một yếu tố nguy cơ có thể có của ung thư tuyến cận giáp. Các cơ chế phần lớn chưa được biết rõ. Phân tích dòng vô tính (clonal analysis) cho thấy trong suy thận mạn, các tuyến cận giáp ban đầu có thể phát triển lan tỏa và đa dòng (polyclonally), sau đó các ổ tăng sản dạng nốt trở thành tân sinh đơn dòng (monoclonal neoplasia), mặc dù cơ chế chính xác vẫn cần được làm rõ. Hiện tại, không có bằng chứng nào cho thấy ung thư tuyến cận giáp phát sinh từ sự chuyển dạng ác tính (malignant transformation) của các tổn thương tuyến cận giáp có từ trước. Một vài báo cáo ca bệnh về ung thư tuyến cận giáp liên quan đến HPT do thận đã được công bố. Người ta đã chỉ ra rằng ung thư tuyến cận giáp phát sinh trong bối cảnh tăng sản tuyến cận giáp do thận không có các biến đổi gen HRPT2/CDC73 và không bị mất biểu hiện parafibromin.
Đột Biến Di Truyền
Bệnh có thể xảy ra như một phần của một hội chứng. Các gen tiềm năng được liệt kê dưới đây (xem thêm Bảng 64.1):
HRPT2/CDC73: Việc quan sát thấy các đột biến gen HRPT2/CDC73 trong ung thư tuyến cận giáp lẻ tẻ và hội chứng khối u hàm – cường tuyến cận giáp di truyền (hereditary hyperparathyroid jaw tumor syndrome – HPT-JT) dẫn đến sự hiểu biết về cơ chế bệnh sinh phân tử có thể có của ung thư tuyến cận giáp. HPT-JT là một rối loạn di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường hiếm gặp, gây ra một hoặc nhiều tân sinh tuyến cận giáp (parathyroid gland neoplasms). Bệnh nhân có khuynh hướng phát triển u xơ cốt hóa (ossifying fibromas) ở xương hàm, các tổn thương dạng nang và tân sinh ở thận, u tử cung, và tân sinh tuyến cận giáp kèm theo tăng nguy cơ ung thư tuyến cận giáp. Khoảng 15% bệnh nhân mắc HPT-JT phát triển thành ung thư tuyến cận giáp. Tình trạng này liên quan đến các đột biến dòng mầm (germline mutations) bất hoạt trong gen HRPT2, gen mã hóa cho parafibromin. Một số trường hợp ung thư tuyến cận giáp lẻ tẻ cũng có những khiếm khuyết trong gen này, chủ yếu là các đột biến soma hoặc đột biến dòng vô tính (somatic or clonal mutations). Các đột biến dòng mầm không được nghi ngờ trước đó có thể được phát hiện ở những bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng là ung thư tuyến cận giáp lẻ tẻ, cho thấy những bệnh nhân này mắc HPT-JT hoặc một biến thể kiểu hình (phenotypic variant).
PRUNE2: Đột biến bất hoạt đã được tìm thấy ở 18% các ca ung thư tuyến cận giáp. Gen này nằm trên nhiễm sắc thể 9q21.2 và mã hóa một loại protein có chức năng ức chế sự chuyển dạng tế bào sinh ung thư (oncogenic cellular transformation).
MEN1: Đột biến gen MEN1 thỉnh thoảng có thể được quan sát thấy trong ung thư tuyến cận giáp, mặc dù rất hiếm. Chỉ có một ca bệnh được báo cáo trong một loạt 348 ca bệnh MEN 1 (0,28%) từ Bệnh viện Mayo Clinic từ năm 1977 đến 2013. Các đặc điểm lâm sàng tương tự như ung thư tuyến cận giáp ở bệnh nhân không mắc MEN 1. Các đột biến soma trong gen MEN1 trên nhiễm sắc thể 11q13 đã được tìm thấy ở tới 30% các ca ung thư tuyến cận giáp lẻ tẻ.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ