KHÁI NIỆM
CHẨN ĐOÁN
Rối lcan lípid mau được đặt ra ờ những bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng hoặc biến chứng của rối loạn lipid máu (vi dụ bệnh vữa xơ động mạch). Rối loạn lipid tiên phát được nghi ngờ ở những bệnh nhân có dấu hiêu lâm sảng của rối loạn lipid máu, bệnh vữa xơ động mạch xuất hiện sớm (trước 60 tuổi), tiền sử g a dinh có người mắc bệnh động mạch hoặc cholesterol máu > 6,2mmol/L (> 240mg/dL). Chẩn đoán xác dn.h bầng xét nghiệm các thành phần lipid máu: cholesterol toàn phần (TC), TG, HDL- cholesterol (HDL-C) và LDL-cholesterol (LDL-C). Bảng 1 giúp chẩn đoán và đánh giá mức độ rối loạn lipid máu theo NCEP-ATP III.
Bảng 1. Đánh giá các mức độ rối loạn lipid máu theo NCEPATPIII (2001)
| Xét nghiệm lipoprotein lúc đói (mmol/L) | Xét nghiệm lipoprotein lúc đói (mmol/L) | ||
| TC (mg/dL) | HDL-cholesterol | ||
| < 5,17 (< 200) | Binh thường | < 1,03 (< 40) | Thấp |
| 5,17-6,18(200-239) | Giới hạn cao | ≥ 1,55 (≥ 60) | Cao |
| ≥ 6,20 (≥ 240) | Cao | TG | |
| LDL-cholesterol | < 1,695 (< 150) | Bình thường | |
| < 2,58 (< 100) | Tối ưu | 1,695-2,249(150-199) | Giới hạn cao |
| 2,58-3,33 (100-129) | Gần tối ưu | 2,26-5,639(200-499) | Cao |
| 3,36-4,11 (130-159) | Giới hạn cao | > 5,65 (> 500) | Rất cao |
| 4,13-4,88(160-189) | Cao | ||
| >4,91 (>190) | Rất cao | ||
Rối loạn lipid máu là yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng. Trong trường hợp bình thường, nên xét nghiệm định kì các thành phần lipid máu (cholesterol toàn phần, tryglycerid, HDL- c, LDL- C) 5 năm một lần đối với người người trưởng thành dưới 40 tuổi và mỗi năm một lần đối với người trên 40 tuổi để phát hiện và xử trí kịp thời rối loạn lipid máu. Đối với người mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch (tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh mạch vành, …) thì có thể xét nghiệm sớm hơn và nhiều lần hơn tùy theo từng trường hợp cụ thể. Trước một người bệnh rối loạn lipid máu, người thầy thuốc cần tiến hành các bước phân tích và xử trí như sau:
Xác định nguyên nhân gây rối loạn lipid máu
Thứ phát (lối sống, ăn nhiều chất béo bão hòa, đái tháo đường, suy thận mạn, suy giáp, do dùng thuốc,…) hay tiên phát (đột biến gen, có tính gia đình, …).
Đánh giá nguy cơ tim mạch đi kèm
Cần xác định bệnh lí động mạch vành (ĐMV), các yếu tố nguy cơ (YTNC) tương đương bệnh mạch vành (đái tháo đường, bệnh động mạch ngoại biên, phình động mạch chủ bụng, bệnh động mạch cảnh có triệu chứng, nguy cơ bệnh động mạch vành > 20%). Ngoài ra còn lưu ý các yếu tố nguy cơ sau:
Hút thuốc lá.
Tăng huyết áp (huyết áp > 140/90mmHg hoặc đang dùng thuốc hạ áp).
Nồng độ HDL – c thấp (< 1,03mmol/L).
Gia đình có người mắc bệnh mạch vành (BMV) sớm (nam < 55 tuổi, nữ < 65 tuổi).
Sau khi đã xác định được các yếu tố nguy cơ tim mạch nói trên, tiếp tục ước tính nguy cơ 10 năm- của BMV (nguy cơ mắc BMV hoặc các biến cố tim mạch khác trong 10 năm tới) theo thang điểm Frammingham với các mức độ < 10%, 10 – 20% và > 20%.
Xác định nồng độ LDL-C là mục tiêu điều trị
Bệnh nhân nguy cơ cao (BMV hoặc tương đương BMV như bệnh động mạch ngoại biên, phình động mạch chủ bụng, bệnh động mạch cảnh có triệu chứng hoặc đa yếu tố nguy cơ tim mạch với nguy cơ tim mạch 10 năm > 20% theo thang điểm Frammingham):
Mục tiêu điều trị: LDL-C < 2,6mmol/L (< 100mg/dL).
Bệnh nhân có nguy cơ rất cao: là những bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành kèm theo:
Đa yếu tố nguy cơ (đặc biệt là đái tháo đường).
Có các yếu tố nguy cơ hoặc những yếu tố nguy cơ nghiêm trọng không được kiểm soát tốt (ví dụ vẫn hút thuốc lá).
Đa yếu tố nguy cơ của hội chứng chuyển hoá (triglycerid > 2,26mmol/L, HDL-C < 1,03mmol/L).
+ Đang bị hội chứng động mạch vành cấp
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ