Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

[SÁCH DỊCH] Sản phụ khoa Căn bản. Chương 13: Chăm sóc hậu sản và sơ sinh sớm

42 phút đọc

(SÁCH DỊCH) Sản Phụ khoa Căn bản – Essential Obstetrics and Gynaecology
Tác giả: Ian Symonds & Sabaratnam Arulkumaran – (C) NXB Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Dịch và Chú giải)


Chương 13: Chăm sóc hậu sản và sơ sinh sớm
Postpartum and early neonatal care
Shankari Arulkumaran
Essential Obstetrics and Gynaecology, Chapter 13, 213-221


MỤC TIÊU HỌC TẬP

Sau khi học xong chương này, bạn có thể:

Tiêu chí kiến thức

  • Mô tả những thay đổi sinh lý bình thường của mẹ trong thời kỳ hậu sản
  • Mô tả nguyên nhân, chẩn đoán và xử trí các bất thường/cấp cứu thường gặp trong giai đoạn hậu sản, bao gồm trụy tim mạch ở mẹ, thuyên tắc huyết khối, nhiễm trùng hậu sản, thiếu máu và các vấn đề về tiết sữa
  • Thảo luận về các di chứng của các biến chứng sản khoa (ví dụ: sinh non)
  • Mô tả các nguyên tắc hồi sức trẻ sơ sinh
  • Mô tả những thay đổi bình thường trong giai đoạn sơ sinh

Năng lực lâm sàng

  • Thực hiện khám lâm sàng hậu sản định kỳ
  • Tư vấn các biện pháp tránh thai cho phụ nữ trong giai đoạn hậu sản
  • Thực hiện khám trẻ sơ sinh

Kỹ năng và thái độ chuyên nghiệp

  • Xem xét tầm quan trọng của việc cho con bú đối với sức khỏe trẻ nhỏ

Giai đoạn hậu sản bình thường


Hậu sản (Puerperium) là một từ Latin có nghĩa là sinh con, vì vậy chúng ta dùng nó để chỉ giai đoạn sau sinh, từ lúc em bé chào đời cho đến khi tử cung co hồi hoàn toàn vào tuần thứ 6. Việc sinh em bé và nhau thai là cần thiết để bắt đầu quá trình tiết sữa hoặc phục hồi khả năng sinh sản.

Những thay đổi sinh lý

Đường sinh dục

Tử cung nặng 1kg sau khi sinh nhưng sẽ giảm xuống dưới 100g sau 6 tuần. Các sợi cơ tử cung trải qua quá trình tự tiêu và teo lại, và trong vòng 10 ngày, tử cung không còn sờ thấy được qua thành bụng (Hình 13.1). Đến cuối thời kỳ hậu sản, tử cung gần như trở lại kích thước như khi chưa mang thai. Nội mạc tử cung tái tạo trong vòng 6 tuần, và kinh nguyệt sẽ xuất hiện trong thời gian này nếu người mẹ đã ngưng cho con bú. Nếu tiếp tục cho con bú, kinh nguyệt có thể trở lại muộn hơn, sau 6 tháng hoặc hơn.

Dịch tiết từ tử cung được gọi là sản dịch. Ban đầu, sản dịch bao gồm máu, có thể là máu tươi hoặc máu đã biến đổi (sản dịch đỏ – lochia rubra), và kéo dài từ 2-14 ngày. Sau đó, nó chuyển sang dịch huyết thanh (sản dịch thanh – lochia serosa) và cuối cùng trở thành một ít dịch màu trắng (sản dịch trắng – lochia alba). Những thay đổi này có thể tiếp diễn trong 4-8 tuần sau sinh. Việc sản dịch đỏ kéo dài bất thường có thể là dấu hiệu của sót nhau hoặc sót màng thai.

Hệ tim mạch

Cung lượng tim và thể tích huyết tương trở lại bình thường trong khoảng 1 tuần. Có sự mất dịch 2 lít trong tuần đầu tiên và mất thêm 1,5 lít trong 5 tuần tiếp theo. Sự mất dịch này đi kèm với sự gia tăng rõ rệt của haematocrit và nồng độ haemoglobin (Hb). Nồng độ natri huyết thanh và bicarbonate huyết tương cũng như độ thẩm thấu huyết tương tăng lên. Sự gia tăng các yếu tố đông máu trong 10 ngày đầu sau sinh có liên quan đến nguy cơ cao hơn về huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) và thuyên tắc phổi. Số lượng tiểu cầu và độ kết dính tiểu cầu cũng tăng. Nồng độ fibrinogen giảm trong quá trình chuyển dạ nhưng lại tăng trong thời kỳ hậu sản.

Hình 13.1 Sự co hồi của tử cung trong thời kỳ hậu sản dẫn đến việc giảm kích thước nhanh chóng.

Những thay đổi nội tiết

Có những thay đổi nhanh chóng ở mọi khía cạnh của hệ nội tiết. Nồng độ oestrogen và progesterone trong huyết thanh giảm nhanh và đạt mức như khi chưa mang thai vào ngày thứ bảy sau sinh. Điều này đi kèm với sự gia tăng nồng độ prolactin huyết thanh ở những phụ nữ cho con bú. Đến ngày thứ mười sau sinh, không còn phát hiện được gonadotrophin màng đệm ở người (hCG).

Tầm quan trọng của việc cho con bú

Sữa non

Sữa non là loại sữa đầu tiên và có trong vú mẹ từ tuần thứ 12 đến 16 của thai kỳ. Sữa non được sản xuất trong tối đa 5 ngày sau sinh trước khi chuyển thành sữa chuyển tiếp (từ ngày 6 đến 13) và cuối cùng là sữa trưởng thành (từ ngày 14 trở đi). Sữa non đặc và có màu vàng do chứa ẞ-carotene và có giá trị năng lượng trung bình là 67 kcal/dL, so với 72 kcal/dL ở sữa trưởng thành. Lượng sữa non mỗi cữ bú thay đổi từ 2 đến 20 mL, phù hợp với kích thước dạ dày của trẻ sơ sinh.

Liên quan đến tầm quan trọng của việc trẻ được bú sữa non như nguồn thức ăn đầu tiên là tầm quan trọng của việc trẻ được da kề da với mẹ sau sinh. Điều này có lợi ích là trẻ được tiếp xúc và hình thành hệ vi khuẩn từ mẹ. Quá trình hình thành hệ vi khuẩn này bắt đầu trong quá trình sinh đối với trẻ sinh ngả âm đạo, trong khi những trẻ sinh mổ có nhiều khả năng hình thành hệ vi khuẩn từ không khí hơn. Việc cho con bú sớm cũng thúc đẩy sự dung nạp với các kháng nguyên, do đó làm giảm số lượng các trường hợp dị ứng thực phẩm ở trẻ bú mẹ. Sự phát triển của hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh cũng làm giảm tỷ lệ mắc bệnh dị ứng, bệnh viêm ruột và tiêu chảy do rotavirus ở trẻ sơ sinh.

Mặc dù việc cho con bú là điều đáng mong muốn và phụ nữ nên được khuyến khích, nhưng không nên bỏ qua nguyện vọng chung của người phụ nữ. Có những lý do xã hội và thường là cảm xúc khiến một người phụ nữ có thể chọn không cho con bú. Trong một số trường hợp, việc này là không thể hoặc thậm chí không được khuyến khích, chẳng hạn như núm vú bị tụt vào trong, đã phẫu thuật vú trước đó, đặt túi ngực, núm vú bị nứt hoặc đau, hoặc người mẹ có một tình trạng bệnh lý (ví dụ: HIV) hoặc đang điều trị y tế (ví dụ: các thuốc hóa trị) là chống chỉ định cho việc cho con bú.

Cho con bú

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ