Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

[SÁCH DỊCH] Sản phụ khoa Căn bản. CHƯƠNG 4: Sự phát triển và tăng trưởng của thai nhi và nhau thai

57 phút đọc

(SÁCH DỊCH) Sản Phụ khoa Căn bảnEssential Obstetrics and Gynaecology
Tác giả: Ian Symonds & Sabaratnam Arulkumaran – (C) NXB Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Dịch và chú giải)


CHƯƠNG 4. Sự phát triển và tăng trưởng của thai nhi và nhau thai
Placental and fetal growth and development
Adonis S. Ioannides
Essential Obstetrics and Gynaecology, Chapter 4, 41-55


MỤC TIÊU HỌC TẬP

Sau khi học xong chương này, bạn sẽ có thể:

Tiêu chí kiến thức

  • Mô tả sự phát triển bình thường của nhau thai
  • Mô tả cấu trúc của dây rốn và tuần hoàn máu tử cung-nhau thai
  • Liệt kê các cơ chế và chức năng vận chuyển qua nhau thai
  • Mô tả trình tự phát triển bình thường của thai nhi
  • Hiểu rõ sự hình thành và ý nghĩa lâm sàng của nước ối

MỤC LỤC CHƯƠNG

Sự phát triển sớm của nhau thai
Sự phát triển tiếp theo của nhau thai
Gai nhau
Cấu trúc của dây rốn
Tuần hoàn máu tử cung-nhau thai
Các yếu tố điều hòa tuần hoàn máu thai-nhau và tử cung
Vận chuyển qua nhau thai
Chức năng của nhau thai
Sản xuất hormone của nhau thai
Sự phát triển của thai nhi
Nước ối
TÓM TẮT Ý CHÍNH

Sự phát triển sớm của nhau thai


Sau khi thụ tinh và phân cắt trứng, phôi dâu (morula) được biến đổi thành phôi nang (blastocyst) nhờ sự hình thành một khoang chứa đầy dịch bên trong khối tế bào.

Lớp ngoài của phôi nang bao gồm các nguyên bào nuôi nguyên thủy (primitive cytotrophoblast), và đến ngày thứ 7, phôi nang xâm nhập vào nội mạc tử cung do sự xâm lấn của lá nuôi (Hình 4.1). Lớp ngoài của lá nuôi trở thành một hợp bào (syncytium). Đáp ứng với sự tiếp xúc của hợp bào nuôi (syncytiotrophoblast), các tế bào mô đệm nội mạc tử cung trở nên lớn và nhạt màu, một quá trình được gọi là phản ứng màng rụng (decidual reaction). Một số tế bào nội mạc tử cung bị các tế bào lá nuôi thực bào.

Hình 4.1: Sự làm tổ của phôi nang.

Bản chất và chức năng của phản ứng màng rụng vẫn chưa chắc chắn, nhưng có vẻ như các tế bào màng rụng vừa giới hạn sự xâm lấn của các tế bào lá nuôi, vừa có chức năng dinh dưỡng ban đầu cho nhau thai đang phát triển.

Trong quá trình phát triển của nhau thai, các dải nguyên bào nuôi, hay tế bào Langhans, phát triển xuống các lớp đáy của màng rụng và xâm nhập vào một số tiểu tĩnh mạch và mao mạch của nội mạc tử cung. Sự hình thành các hồ máu (lacunae) chứa đầy máu mẹ báo trước sự phát triển của khoang gian gai nhau (intervillous space).

Các dải lá nuôi xâm lấn tạo thành các gai nhau nguyên phát (primary villi), sau này phân nhánh để tạo thành các gai nhau thứ phát (secondary villi) và tiếp theo là các gai nhau tam phát (tertiary villi) trôi nổi tự do.

Lõi trung tâm của các gai nhau này được một cột tế bào trung bì (mesoblastic cells) xâm nhập và trở thành mạng lưới mao mạch của gai nhau. Cuống phôi (body stalk) nối thai nhi đang phát triển với nhau thai tạo thành các mạch máu rốn, các mạch máu này tiến vào các gai nhau để nối với các mao mạch gai nhau và thiết lập tuần hoàn nhau thai.

Mặc dù các tế bào lá nuôi bao quanh phôi nang ban đầu, khu vực phát triển thành nhau thai trở nên dày lên và phân nhánh rộng rãi, được gọi là màng đệm nhung mao (chorion frondosum). Tuy nhiên, ở khu vực sau này giãn ra để tạo thành lớp ngoài của màng thai, hay màng đệm trơn (chorion laeve), các gai nhau bị teo đi và bề mặt trở nên nhẵn (Hình 4.2). Lớp màng rụng nằm dưới nhau thai được gọi là màng rụng đáy (decidua basalis) và lớp màng rụng giữa các màng và cơ tử cung được gọi là màng rụng bao (decidua capsularis).

Hình 4.2: Sự phát triển của bánh nhau sớm. Màng đệm nhung mao tạo thành các gai nhau. Màng đệm trơn tạo thành phần màng đệm của các màng thai.

Sự phát triển tiếp theo của nhau thai


Khoảng 6 tuần sau khi rụng trứng, lá nuôi đã xâm lấn khoảng 40-60 tiểu động mạch xoắn. Máu từ hệ mạch của mẹ đẩy các mao mạch thứ phát và tam phát trôi nổi tự do vào một múi nhau (cotyledon) của mẹ có hình lều. Các lều này được giữ chặt vào đĩa đáy của màng rụng bởi các gai nhau bám (anchoring villi), và máu từ các tiểu động mạch phun về phía đĩa đệm (chorionic plate) rồi quay trở lại để đổ vào các tĩnh mạch của mẹ ở đĩa đáy. Cuối cùng có khoảng 12 múi nhau lớn của mẹ và 40-50 múi nhỏ hơn (Hình 4.3).

Hình 4.3: Mặt bánh nhau phía mẹ khi đủ tháng cho thấy các múi nhau.

Gai nhau (The villus)


Mặc dù các gai nhau được sắp xếp thành các múi nhau của mẹ, đơn vị chức năng của nhau thai vẫn là gai nhau thân (stem villus) hay múi nhau của thai. Đơn vị cuối của gai nhau thân, đôi khi được gọi là gai nhau tận cùng (terminal villus) hay gai nhau đệm (chorionic villus), được thể hiện trong Hình 4.4. Ban đầu có khoảng 200 gai nhau thân phát sinh từ màng đệm nhung mao. Khoảng 150 trong số các cấu trúc này bị nén ở ngoại vi của các múi nhau mẹ và trở nên tương đối không còn chức năng, để lại khoảng một chục múi nhau lớn và 40-50 múi nhỏ hơn làm đơn vị hoạt động của chức năng nhau thai.

Hình 4.4: Gai nhau đệm là đơn vị chức năng của nhau thai.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ