Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

[SÁCH DỊCH] Sản phụ khoa Căn bản. Chương 7. Thai kỳ bình thường và Chăm sóc trước sinh

51 phút đọc

(SÁCH DỊCH) Sản Phụ khoa Căn bản – Essential Obstetrics and Gynaecology
Tác giả: Ian Symonds & Sabaratnam Arulkumaran – (C) NXB Elsevier
Ths.Bs. Lê Đình Sáng (Dịch và chú giải)


Chương 7. Thai kỳ bình thường và Chăm sóc trước sinh
Normal pregnancy and antenatal care
Shaylee Iles
Essential Obstetrics and Gynaecology, Chapter 7, 82-92


MỤC TIÊU HỌC TẬP

Sau khi nghiên cứu chương này, bạn sẽ có thể:

Tiêu chí kiến thức

  • Mô tả các mục tiêu và quy trình chăm sóc trước sinh định kỳ
  • Liệt kê các yếu tố chính trong chăm sóc tiền thụ thai
  • So sánh sự thay đổi về nhân khẩu học trong thai kỳ
  • Thảo luận về tầm quan trọng của tiền sử sản khoa đối với việc lập kế hoạch chăm sóc trước sinh
  • Liệt kê các xét nghiệm định kỳ được sử dụng trong chăm sóc trước sinh, bao gồm sàng lọc dị tật thai nhi
  • Thảo luận về nguy cơ của việc lạm dụng chất gây nghiện trong thai kỳ
  • Thảo luận về vai trò của dự phòng miễn dịch bằng anti-D

Năng lực lâm sàng

  • Thực hiện một buổi khám thai lần đầu theo quy trình
  • Tư vấn giáo dục trước sinh về lối sống chung trong thai kỳ

Kỹ năng và thái độ chuyên nghiệp

  • Xem xét tầm quan trọng của sự tương tác giữa các yếu tố xã hội, văn hóa và thai kỳ
  • Xem xét các nguyên tắc kê đơn an toàn trong thai kỳ

Mục tiêu và quy trình chăm sóc trước sinh định kỳ

Quan niệm rằng kết cục sinh sản của một người phụ nữ có thể được cải thiện nhờ sự theo dõi trước sinh là một khái niệm mới đáng ngạc nhiên, lần đầu tiên được giới thiệu tại Edinburgh vào năm 1911. Ở nhiều xã hội, đặc biệt là ở những vùng biệt lập và có nguồn lực thấp, dịch vụ chăm sóc trước sinh hoặc không có sẵn, hoặc vì lý do xã hội hay tôn giáo, người dân không sử dụng khi có sẵn. Đáng tiếc là, dịch vụ này thường ít có sẵn nhất ở những cộng đồng có nhu cầu cao nhất và nơi các rối loạn trước sinh, đặc biệt là những rối loạn liên quan đến suy dinh dưỡng hoặc thừa dinh dưỡng, là phổ biến nhất.

Giả định cơ bản là mang thai và sinh nở là những sự kiện sinh lý bình thường, trong đó các biến chứng có thể và thực sự phát sinh ở bất kỳ giai đoạn nào. Chăm sóc trước sinh nhằm mục đích phát hiện, phòng ngừa hoặc điều trị những kết cục bất lợi này để đảm bảo sức khỏe tối ưu cho mẹ và thai nhi trong suốt thai kỳ và thời kỳ hậu sản. Chăm sóc trước sinh cũng nhằm mục đích chuẩn bị cho các bậc cha mẹ trong quá trình chuyển đổi sang vai trò làm cha mẹ và chăm sóc trẻ sơ sinh.

Các phương pháp để đạt được những mục tiêu này sẽ khác nhau tùy thuộc vào sức khỏe ban đầu và tiền sử của người mẹ và là sự kết hợp của các xét nghiệm sàng lọc, hỗ trợ về giáo dục và tinh thần, cũng như theo dõi sự phát triển của thai nhi và sức khỏe của người mẹ trong suốt thai kỳ.

Trong chăm sóc trước sinh hiện đại, thời điểm các lần khám, đặc biệt là trong 28 tuần đầu của thai kỳ, được sắp xếp chặt chẽ để tham dự các xét nghiệm sàng lọc. Trong thai kỳ không biến chứng, việc giảm số lần khám so với lịch trình ban đầu được đề xuất là 4 tuần một lần cho đến 28 tuần, 2 tuần một lần cho đến 36 tuần và hàng tuần sau đó đã được chứng minh là không ảnh hưởng xấu đến kết cục của mẹ hoặc chu sinh, mặc dù sự hài lòng của người mẹ có thể giảm.

Chăm sóc trước sinh được cung cấp thông qua nhiều cơ chế khác nhau và có thể do các bác sĩ đa khoa, nữ hộ sinh và bác sĩ sản khoa cung cấp, thường theo mô hình chăm sóc phối hợp. Những thai kỳ được coi là có nguy cơ cao nên nhận được một tỷ lệ lớn sự chăm sóc từ các bác sĩ sản khoa hoặc chuyên gia về y học bào thai-mẹ. Phân tầng nguy cơ cần được đánh giá tại các lần khám trước sinh sớm nhất và kế hoạch chăm sóc được lập ra cho phù hợp. Các hướng dẫn về tham vấn và chuyển tuyến, chẳng hạn như những hướng dẫn do Trường Cao đẳng Nữ hộ sinh Úc hoặc Viện Y tế và Chất lượng điều trị Quốc gia (NICE) ban hành, có thể là một công cụ hữu ích để đánh giá nguy cơ và xác định mô hình chăm sóc phù hợp nhất. Nguy cơ thai kỳ và người cung cấp dịch vụ chăm sóc phù hợp nhất có thể thay đổi trong suốt quá trình mang thai.

Chăm sóc tiền thụ thai và bổ sung vitamin

Lý tưởng nhất, tất cả phụ nữ nên đến khám trước khi thụ thai để chuyên gia y tế có thể cung cấp cho họ dịch vụ chăm sóc và tư vấn trước khi mang thai. Vai trò này thường được thực hiện tốt nhất bởi bác sĩ đa khoa quen thuộc của người phụ nữ. Cuộc hẹn này tạo cơ hội để thực hiện các xét nghiệm sàng lọc và đưa ra lời khuyên về việc thụ thai và chăm sóc thai kỳ sớm. Đáng tiếc là, mặc dù có nhiều biện pháp tránh thai, khoảng một nửa số ca thụ thai là ngoài ý muốn.

Các thành phần thiết yếu của chăm sóc tiền thụ thai bao gồm đánh giá nhu cầu tiêm chủng rubella, thủy đậu và ho gà. Nếu tiền sử tiêm chủng hoặc nhiễm bệnh trong quá khứ không chắc chắn, có thể cần làm xét nghiệm huyết thanh học. Nếu kết quả huyết thanh học âm tính hoặc đến kỳ tiêm chủng, vắc-xin có thể được cung cấp. Vì đây là các vắc-xin virus sống giảm độc lực, khuyến cáo phụ nữ nên sử dụng biện pháp tránh thai đầy đủ để hoãn việc thụ thai trong 28 ngày sau khi tiêm. Việc tiêm vắc-xin cúm theo mùa cho những phụ nữ dự định mang thai hoặc đang mang thai cũng được khuyến nghị do tỷ lệ mắc bệnh nghiêm trọng liên quan đến nhiễm cúm trong thai kỳ tăng lên. Lần khám này cũng là cơ hội lý tưởng để thực hiện sàng lọc ung thư cổ tử cung định kỳ nếu đến hạn.

Lời khuyên về chế độ ăn uống và bổ sung vitamin cũng nên được đưa ra vào thời điểm này. Khuyến cáo rằng tất cả phụ nữ nên bổ sung axit folic (400-500 µg mỗi ngày) trong ít nhất 1 tháng trước khi thụ thai và 3 tháng đầu của thai kỳ như một biện pháp hiệu quả để giảm tỷ lệ mắc dị tật ống thần kinh. Một số nhóm nguy cơ có thể được khuyến nghị dùng liều cao hơn (5 mg mỗi ngày), chẳng hạn như những người đang dùng thuốc chống động kinh, phụ nữ béo phì, phụ nữ mắc bệnh tiểu đường hoặc phụ nữ có tiền sử dị tật ống thần kinh. Bổ sung i-ốt 150 µg mỗi ngày cũng được khuyến nghị ở các quốc gia hoặc khu vực có chế độ ăn thiếu i-ốt để hỗ trợ sự phát triển não bộ của thai nhi. Có thể xem xét sàng lọc thiếu vitamin D ở các nhóm dân số có nguy cơ (bao gồm những người có tông màu da sẫm hơn hoặc những người luôn che kín khi ra ngoài), và bổ sung nếu cần.

Các tình trạng bệnh lý của mẹ, bao gồm cả thuốc men, có thể được xem xét và tối ưu hóa vào thời điểm này. Điều này tạo cơ hội để thảo luận về tác động của thai kỳ đối với tình trạng bệnh lý, cũng như tác động của tình trạng bệnh lý đối với thai kỳ. Thuốc có thể cần được thay đổi hoặc giảm liều khi thích hợp. Chuyển tuyến đến các đồng nghiệp chuyên khoa để tối ưu hóa điều trị có thể là phù hợp.

Tối ưu hóa sức khỏe tiền thụ thai với lời khuyên về chế độ ăn uống bổ dưỡng và tập thể dục vừa phải thường xuyên cũng nên được cung cấp vào thời điểm này. Việc tìm hiểu và thảo luận về việc sử dụng các chất hợp pháp và bất hợp pháp cũng nên được thực hiện.

Sự thay đổi về nhân khẩu học trong thai kỳ

Tuổi của mẹ là một yếu tố quyết định quan trọng đến kết cục trong các dịch vụ sản khoa, với nguy cơ gia tăng liên quan đến cả hai thái cực của tuổi mẹ. Độ tuổi trung vị của phụ nữ sinh con ở các nước phát triển tiếp tục tăng và hiện ở mức hơn 30 tuổi một chút. Tỷ lệ sinh sản ở phụ nữ trên 40 tuổi đã tăng gấp ba lần kể từ năm 1990 và hiện vượt quá tỷ lệ sinh sản ở phụ nữ dưới 20 tuổi. Tỷ lệ sinh sản ở phụ nữ dưới 25 tuổi (bao gồm cả phụ nữ vị thành niên) hiện ở mức thấp nhất kể từ khi bắt đầu ghi nhận ở Anh vào năm 1938. Xu hướng phụ nữ trì hoãn việc sinh con cho đến khi lớn tuổi được thấy một cách nhất quán ở các nước phát triển. Lý do cho điều này rất phức tạp và do một số yếu tố xã hội, kinh tế và giáo dục. Tỷ lệ sinh sản cao nhất ở nhóm tuổi 30-34.

Việc sử dụng các công nghệ hỗ trợ sinh sản (ART) đã tăng lên cùng với sự gia tăng độ tuổi sinh đẻ trung vị. Khoảng 3,6% trẻ sơ sinh được sinh ra là do thụ thai được hỗ trợ bởi ART ở Úc và Anh. Ngoài ra, tỷ lệ đa thai đã ổn định, hiện chiếm khoảng 1,6% tổng số bà mẹ. Tỷ lệ tăng nhanh trước đây phần lớn là do sự gia tăng của ART và tuổi mẹ ngày càng tăng. Tuy nhiên, tỷ lệ đa thai trong thai kỳ ART đang giảm do việc sử dụng chuyển phôi đơn ngày càng tăng. Phần lớn các trường hợp đa thai vẫn là do thụ thai tự nhiên.

Số lượng tuyệt đối trẻ em sinh ra từ mỗi phụ nữ tiếp tục ở mức thấp, với 75% bà mẹ sinh con đầu lòng hoặc con thứ hai. Độ tuổi trung vị của các bà mẹ sinh con lần đầu cũng tiếp tục tăng và hiện vào khoảng 28 tuổi.

Phụ nữ là những người tham gia tích cực vào việc chăm sóc trước sinh, với hơn 98% có ít nhất một lần khám trước sinh và 92% có năm lần khám trở lên. Sinh non xảy ra ở khoảng 8,7% tổng số thai kỳ, với hơn 80% xảy ra trong khoảng từ 32 đến 36 tuần.

Tỷ lệ mổ lấy thai như một phần của các ca sinh tăng lên theo tuổi mẹ và chỉ số khối cơ thể (BMI) ngày càng tăng.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ