Sinh lý học Hô hấp ứng dụng của Nunn & Lumb, ấn bản thứ 9. Nunn and Lumb’s Applied Respiratory Physiology 9th Edition.
Chủ biên: Andrew Lumb, Caroline Thomas. Nhà xuất bản ELSEVIER. Biên dịch: Ts.Bs. Lê Nhật Huy, Ths.Bs. Lê Đình Sáng. ISBN-13: 978-0702079085.
Ấn bản tiếng Việt của cuốn sách này được dịch & chia sẻ vì mục đích lan toả tri thức, hoàn toàn phi lợi nhuận, duy nhất trên các website sachyhoc.com & yhoclamsang.net của THƯ VIỆN MEDIPHARM. NGHIÊM CẤM THƯƠNG MẠI HOÁ bản dịch tiếng Việt của cuốn sách này dưới bất cứ hình thức nào.
CHƯƠNG 29. BỆNH LÝ MẠCH MÁU PHỔI
Pulmonary vascular disease
Andrew Lumb, MB BS FRCA; Caroline Thomas, BSc MBChB MRCS(Ed) FRCA
Nunn and Lumb’s Applied Respiratory Physiology, 29, 339-348.e2
| ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG |
|
Phù phổi xảy ra khi áp lực mao mạch phổi tăng hoặc tính thấm của màng phế nang/mao mạch thay đổi làm cho dịch tích tụ trong khoảng kẽ và các phế nang. Thuyên tắc phổi, do huyết khối hoặc khí, làm tắc nghẽn một phần tuần hoàn phổi, gây ra sự gia tăng khoảng chết phế nang và Tăng áp Động mạch Phổi. Tăng áp Động mạch Phổi phổ biến nhất là hệ quả của tình trạng thiếu oxy mô kéo dài hoặc tăng áp lực nhĩ trái, liên quan đến sự suy giảm sản xuất nitric oxide và quá trình tái cấu trúc các mạch máu phổi. |
Phù Phổi
Y văn định nghĩa Phù phổi (pulmonary oedema) là sự gia tăng lượng nước ngoài mạch máu phổi, xảy ra khi quá trình thấm dịch (transudation) hoặc xuất tiết dịch (exudation) vượt quá khả năng dẫn lưu của hệ bạch huyết. Trong các thể nặng hơn, dịch tự do xuất hiện ngay trong lòng các phế nang.
Các Yếu Tố Giải Phẫu
Các tế bào nội mô mao mạch phổi nằm sát nhau tại các điểm nối khá lỏng lẻo có chiều rộng khoảng 5 nm. Những điểm nối này cho phép các phân tử khá lớn, bao gồm cả albumin, đi qua tự do. Lớp glycocalyx nội mô (endothelial glycocalyx – EG) lót trên bề mặt hướng vào lòng mạch của các tế bào nội mô; đây là một lớp phức hợp các đại phân tử gắn kết vào bề mặt tế bào, hoạt động như một rào cản thụ động đối với các đại phân tử và nước, giúp kiểm soát tính thấm của lớp nội mô. Hàng rào tế bào nội mô và lớp glycocalyx nội mô cho phép một số đại phân tử đi qua, và bạch huyết phổi chứa albumin ở nồng độ bằng khoảng một nửa so với trong huyết tương. Các liên kết chặt (tight junctions) kết nối các tế bào biểu mô phế nang tại bề mặt phế nang của chúng, với một khoảng trống chỉ khoảng 1 nm. Trong điều kiện bình thường, sự khít chặt của các điểm nối này ngăn cản sự thoát ra của các phân tử lớn, chẳng hạn như albumin, từ dịch khoảng kẽ vào phế nang. Tuy nhiên, các protein cấu tạo nên các liên kết chặt này không đơn thuần là những đơn vị cấu trúc thụ động, mà chúng có thể thay đổi để đáp ứng với nitric oxide, từ đó làm gia tăng tính thấm qua các liên kết chặt.
Phổi có một hệ thống bạch huyết phát triển tốt dẫn lưu khoảng kẽ thông qua một mạng lưới các kênh quanh phế quản và các mạch máu phổi hướng về phía rốn phổi. Chúng ta có thể tìm thấy các mạch bạch huyết ở vùng phế nang cạnh vách (juxtaseptal alveolar region) và chúng thường xuất hiện gắn liền với các tiểu phế quản. Dọc theo đường dẫn khí cho đến thế hệ thứ 11, các mạch bạch huyết nằm trong một khoang ảo xung quanh các đường dẫn khí và mạch máu, ngăn cách chúng với nhu mô phổi. Tại rốn phổi, hệ thống dẫn lưu bạch huyết đi qua nhiều nhóm hạch bạch huyết khí – phế quản, nơi chúng nhận các nhánh từ mạng lưới dưới màng phổi nông. Hầu hết bạch huyết từ phổi trái thường đổ vào ống ngực, trong khi phía bên phải dẫn lưu vào ống bạch huyết phải.
Lượng dịch dẫn lưu bạch huyết bình thường từ phổi người thấp một cách đáng ngạc nhiên – chỉ khoảng 10 mL mỗi giờ. Tuy nhiên, lưu lượng bạch huyết có thể tăng lên gấp 10 lần giá trị này khi quá trình thấm dịch vào khoảng kẽ tăng lên. Hiện tượng này có lẽ xảy ra khi có nguy cơ đe dọa phù phổi, nhưng việc đo lường trực tiếp trên cơ thể người gặp nhiều khó khăn.
Động Lực Học Dịch Phổi
Để dịch trong lòng mạch đi vào các phế nang, dịch phải vượt qua ba hàng rào. Đầu tiên, dịch di chuyển từ vi tuần hoàn vào khoảng kẽ (đi qua lớp glycocalyx nội mô và lớp nội mô), tiếp theo là đi qua khoảng kẽ và cuối cùng là từ khoảng kẽ đi vào các phế nang (đi qua lớp biểu mô).
Trao Đổi Dịch Qua Lớp Nội Mô
Sự chênh lệch áp lực thủy tĩnh giữa mao mạch và khoảng kẽ thúc đẩy quá trình này, nhưng áp lực thẩm thấu (osmotic pressure) của các protein huyết tương lại tạo ra lực đối kháng. Sự cân bằng của các áp lực này bình thường đủ để ngăn ngừa bất kỳ sự thấm dịch đáng kể nào, nhưng nhiều hoàn cảnh bệnh lý khác nhau có thể làm đảo lộn sự cân bằng này.

Hình 29.1 Các giá trị bình thường của áp lực thủy tĩnh và áp lực thẩm thấu protein huyết tương trong vi tuần hoàn phổi và khoảng kẽ.
Thông thường, phương trình Starling (Starling equation) thể hiện mối quan hệ giữa lưu lượng dịch và sự cân bằng các áp lực. Đối với hàng rào nội mô, phương trình này như sau:
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ