Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Sổ tay Tai Mũi Họng – Phẫu thuật Đầu Cổ (2026). CHƯƠNG 6: PHẪU THUẬT ĐẦU VÀ CỔ

261 phút đọc

Sổ tay Tai Mũi Họng – Phẫu thuật Đầu Cổ (Ấn bản 2026)
Handbook of Otolaryngology: Head and Neck Surgery, Third Edition
Chủ biên: David Goldenberg, Bradley J. Goldstein 
Dịch và Chú giải: THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG
Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website yhoclamsang.net – sachyhoc.com bởi THƯ VIỆN MEDIPHARM.


CHƯƠNG 6: PHẪU THUẬT ĐẦU VÀ CỔ

Head and Neck Surgery
Neerav Goyal
Handbook of Otolaryngology: Head and Neck Surgery, Chapter 6, 278-397


6.0 GIẢI PHẪU VÙNG CỔ

ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG
• Giải phẫu vùng cổ rất phức tạp với các động mạch và tĩnh mạch lớn cũng như hầu hết các dây thần kinh sọ chạy qua khoang này.

• Từ quan điểm ung thư học, cổ được chia thành các nhóm/mức độ khác nhau.

Từ quan điểm phẫu thuật, việc xem xét giải phẫu cổ liên quan đến các khoang hoặc các mức độ và các lớp cân mạc là rất hữu ích. Một lớp cân cổ nông bao phủ vùng cổ, và lớp cân cổ sâu có thể được chia thành lớp nông (lớp bao), lớp giữa, và lớp sâu (lớp tạng) (Hình 6.1). Điều này có liên quan đến nhiễm trùng và sự lây lan qua đường bạch huyết của ung thư. Vùng cổ có thể được chia đại thể thành cổ trước và cổ sau. Phía sau dĩ nhiên là cột sống cổ và các cơ cạnh sống. Ở phía trước bên, các thành phần của cổ được chia thành các nhóm hạch từ mức I đến mức VI.

Mỗi mức chứa một khoang mô mỡ xơ mang hạch bạch huyết được nhắm đến để loại bỏ trong các thủ thuật nạo vét hạch cổ điều trị ung thư. Mức I bao gồm vùng dưới cằm (submental region) (Ia) và vùng dưới hàm (submandibular area) chứa tuyến dưới hàm (Ib). Mức II là vùng hạch chuỗi cảnh trên, mức III là chuỗi cảnh giữa, và mức IV là vùng chuỗi cảnh dưới. Mức V là tam giác cổ sau tính từ bờ trước của cơ thang đến bờ sau của cơ ức đòn chũm (sternocleidomastoid – SCM). Mức VI là mô mang hạch của khoang trung tâm. Các cấu trúc tạng của cổ nằm trong khoang trung tâm bao gồm phức hợp thanh-khí quản, tuyến giáp và tuyến cận giáp, và thực quản đoạn cổ. Vui lòng xem Mục 6.5 để biết thêm chi tiết.

CẤP MÁU

Động mạch cảnh chung (common carotid artery) đi lên vùng cổ và chia đôi thành động mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài ở khoảng mức xương móng. Động mạch cảnh trong không có nhánh ở cổ và cung cấp nguồn máu thiết yếu cho não và các động mạch đốt sống. Động mạch cảnh ngoài cung cấp máu cho các cấu trúc đầu và cổ thông qua nhiều nhánh (theo thứ tự, bắt đầu từ dưới lên): động mạch giáp trên, động mạch hầu lên, động mạch lưỡi, động mạch mặt, động mạch chẩm, động mạch tai sau, động mạch hàm trên, và động mạch thái dương nông (Hình 6.2). Hệ thống dẫn lưu tĩnh mạch có xu hướng đi song song với các động mạch lớn, với các nhánh tĩnh mạch cảnh trước và tĩnh mạch cảnh ngoài biến đổi ở nông, và các tĩnh mạch mặt chung lớn đổ vào tĩnh mạch cảnh trong, tĩnh mạch này đổ vào tĩnh mạch dưới đòn. Bao cảnh (carotid sheath), được tạo thành bởi cả ba lớp của cân cổ sâu, chứa động mạch cảnh, tĩnh mạch cảnh và dây thần kinh lang thang (vagus nerve). Ngoài ra, các mạch bạch huyết mỏng manh quan trọng từ ống ngực vận chuyển dưỡng chấp đổ vào tĩnh mạch cảnh gần chỗ nối của nó với tĩnh mạch dưới đòn ở cổ bên trái; tuy nhiên, các ống ngực phụ thường xuất hiện ở bên phải.

Hình 6.1 Các khoang vùng cổ. (Phỏng theo Paul S. Tiwana, Deepak Kademani, Atlas of Oral and Maxillofacial Surgery. Second edition, 2024, Figure 7.3, Elsevier Inc.) 

Hình 6.2 Các động mạch của đầu và cổ. (Sửa đổi từ Thibodeau GA, Patton KT. Anatomy and Physiology, ed 8. St Louis: Mosby; 2013.)

CHI PHỐI THẦN KINH

12 dây thần kinh sọ (cranial nerves – CNs) cung cấp các sợi vận động, cảm giác và giác quan đặc biệt cho vùng đầu và cổ. Theo thứ tự, chúng là: khứu giác, thị giác, vận nhãn, ròng rọc, sinh ba, vận nhãn ngoài, mặt, tiền đình ốc tai, thiệt hầu, lang thang, phụ và hạ thiệt.

Ở cổ, có những khía cạnh quan trọng về mặt phẫu thuật của giải phẫu thần kinh sọ. Dây thần kinh hạ thiệt (XII) thoát ra khỏi nền sọ tại ống hạ thiệt và chạy bên dưới bụng sau cơ nhị thân và các thành phần dưới hàm để vận động cho lưỡi. Phần thần kinh (pars nervosa) của lỗ tĩnh mạch cảnh chứa dây thần kinh thiệt hầu (IX), lang thang (X) và thần kinh phụ (XI). Dây thần kinh lang thang chạy trong bao cảnh, và các nhánh thần kinh thanh quản quặt ngược chạy trong rãnh khí thực quản để chi phối cho dây thanh; các dây thần kinh thanh quản trên tách ra từ dây lang thang ở vùng cổ cao. Dây thần kinh phụ chạy theo hướng sau dưới qua cổ, đi vào bờ trước của cơ ức đòn chũm, thoát ra từ bờ sau gần điểm Erb và tiếp tục đi vào cơ thang. Dây thần kinh mặt (VII) thoát ra khỏi nền sọ tại lỗ trâm chũm. Các nhánh vận động chính của nó chạy trong tuyến mang tai để chi phối các cơ biểu cảm khuôn mặt. Ngược lại, dây thần kinh lưỡi (nhánh của thần kinh hàm dưới thuộc dây thần kinh sinh ba) cung cấp các sợi đối giao cảm cho tuyến dưới hàm và cảm giác cho phần trước lưỡi, và được tìm thấy ở sâu so với tuyến dưới hàm. Các dây thần kinh cổ quan trọng cũng được tìm thấy ở cổ. Dây thần kinh tai lớn (great auricular nerve) (nó không được gọi là “lớn hơn/greater”, vì không có dây thần kinh tai bé) truyền các sợi cảm giác của C2-3 đến vùng loa tai (Hình 6.3). Dây thần kinh này được tìm thấy dọc theo cơ ức đòn chũm, chạy lên trên từ điểm Erb. Dây thần kinh hoành (phrenic nerve) (C3-5) nằm sâu dưới cân của “sàn cổ” (lớp sâu của cân cổ sâu) dọc theo cơ bậc thang trước, cung cấp các sợi vận động cho cơ hoành. Ngoài ra, đám rối cánh tay nằm trong cùng một mặt phẳng, sâu dưới cân trên cơ bậc thang giữa. Chuỗi giao cảm cổ chạy sâu dưới động mạch cảnh. Giải phẫu thần kinh sọ được ôn lại trong Phụ lục B.

Hình 6.3 Bản vẽ sơ đồ các đám rối cổ sâu và nông. (A) Bốn nhánh nông của đám rối cổ được mô tả bằng màu vàng, và các nhánh sâu (quai cổ/ansa cervicalis) được mô tả bằng màu xanh lá cây. Đám rối cổ được biết là có sự nối với một số dây thần kinh sọ và thân giao cảm. (B) Đám rối cổ nông thoát ra phía sau bờ sau của cơ ức đòn chũm và chi phối các vùng đầu, cổ và vai. (Hình minh họa được phỏng theo Restrepo CE, Tubbs RS, Spinner RJ. Expanding what is known of the anatomy of the spinal accessory nerve. Clin Anat. 2015 28(4):467-471.)

6.1 CÁC CẤP CỨU VÙNG CỔ

Các phần phụ sau đây sẽ mô tả một số chẩn đoán cấp cứu xảy ra ở vùng cổ. Các tình trạng này và nguyên nhân của chúng là rất quan trọng cần xem xét. Mỗi phần phụ sẽ phác thảo bệnh cảnh lâm sàng điển hình của cấp cứu cũng như cách đánh giá và xử trí những vấn đề này.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ