Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Sổ tay Tai Mũi Họng – Phẫu thuật Đầu Cổ (2026). CHƯƠNG 8. PHẪU THUẬT NỘI TIẾT

124 phút đọc

Sổ tay Tai Mũi Họng – Phẫu thuật Đầu Cổ (Ấn bản 2026)
Handbook of Otolaryngology: Head and Neck Surgery, Third Edition
Chủ biên: David Goldenberg, Bradley J. Goldstein 
Dịch và Chú giải: THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG
Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website yhoclamsang.net – sachyhoc.com bởi THƯ VIỆN MEDIPHARM.


CHƯƠNG 8. PHẪU THUẬT NỘI TIẾT

Endocrine Surgery
David Goldenberg
Handbook of Otolaryngology: Head and Neck Surgery, Chapter 8, 435-479


8.0 PHÔI THAI HỌC VÀ GIẢI PHẪU HỌC TUYẾN GIÁP

ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG
• Tuyến giáp là một tuyến mạch máu hình chữ H nằm ở vùng cổ thấp phía trước, ngay dưới thanh quản (larynx).

• Ở tuần thai thứ 3, đây là cơ quan nội tiết đầu tiên phát triển.

• Chức năng của tuyến là tổng hợp và bài tiết các hormone tuyến giáp thyroxine (T4) và triiodothyronine (T3).

• Eo tuyến giáp nằm vắt ngang các vòng sụn khí quản từ thứ hai đến thứ tư.

• Tuyến giáp nặng trung bình 25 g ở người trưởng thành.

• Thùy tháp có thể hiện diện như một phần mở rộng của ống giáp lưỡi (thyroglossal duct) trong thời kỳ phôi thai (gặp ở 50% dân số).

• Củ Zuckerkandl (tubercle of Zuckerkandl) là phần lồi ra ở phía sau bên của thùy tuyến giáp.

• Tuyến giáp thường không nhìn thấy được từ bên ngoài; khi kích thước tăng lên, nó tạo thành một khối sưng đặc trưng ở cổ gọi là bướu giáp (goiter).

Phôi Thai Học

Tuyến giáp ở người bắt đầu phát triển vào tuần thai thứ 3. Tuyến giáp di chuyển từ lỗ tịt (foramen cecum) ở đáy lưỡi xuống phần thấp của cổ trong quá trình phát triển phôi thai. Trong quá trình di chuyển này, phần di tích của tuyến giáp hoặc toàn bộ tuyến giáp có thể nằm lại tại lỗ tịt (tuyến giáp lưỡi) hoặc dọc theo đường đi của ống giáp lưỡi. Tuyến hình thành cấu trúc hai thùy đặc trưng, hoàn thiện vào quý thứ ba của thai kỳ. Các nguyên mầm tuyến giáp bên xuất phát từ túi họng (pharyngeal pouches) thứ tư và thứ năm và di chuyển xuống để sáp nhập với thành phần trung tâm. Các tế bào C cận nang (parafollicular C cells) phát sinh từ mào thần kinh của túi họng thứ tư dưới dạng các thể mang cuối (ultimobranchial bodies) và xâm nhập vào phần trên của các thùy tuyến giáp. Do sự hợp nhất có thể dự đoán được của các thể mang cuối vào mầm tuyến giáp trung tâm, các tế bào C thường khu trú ở vùng sâu bên trong 1/3 giữa đến 1/3 trên của các thùy bên (Hình 8.1).

Dây Chằng Và Mạc

Tuyến giáp được bao bọc bởi lớp giữa của mạc cổ sâu (deep cervical fascia). Phần sau trong của tuyến dính vào sụn nhẫn, vòng khí quản thứ nhất và thứ hai bởi dây chằng Berry (Berry ligament) (hay còn gọi là dây chằng treo sau). Nằm dưới lớp mạc cổ, tuyến có một bao xơ bên trong, mỏng và dính chặt vào nhu mô tuyến.

Hình 8.1 (A-C) Phôi thai học và các dị tật của tuyến giáp. (A) Sàn họng và sự phát triển của túi họng. (B) Sự di chuyển của tuyến giáp. (C) Các vị trí mô giáp lạc chỗ và nang ống giáp lưỡi.

Tế Bào Tuyến Giáp

Tuyến giáp bao gồm các tế bào nang (follicular cells) và tế bào cận nang (tế bào C; tế bào sáng). Các tế bào nang chịu trách nhiệm tạo ra chất keo (colloid) (iodo-thyroglobulin), có chức năng dự trữ hormone tuyến giáp trước khi bài tiết. Các tế bào cận nang nằm rải rác giữa các nang giáp và sản xuất hormone calcitonin, đóng vai trò trung tâm trong cân bằng nội môi canxi. Các tế bào này di cư từ mào thần kinh và tập trung nhiều nhất ở vị trí nối giữa 1/3 trên và 2/3 dưới của các thùy.

Giải Phẫu Mạch Máu

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ