ĐẠI CƯƠNG
CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH
Chẩn đoán xác định cần dựa vào:
Tiền sử bệnh, các biểu hiện lâm sàng với cơn đau quặn thận hoặc đau vùng hông lưng, đái máu, các triệu chửng của biến chứng do sỏi gây nên như: ứ nước, ứ mù bể thận, suy thận cấp và mạn.
Xét nghiệm sinh hóa máu và nước tiểu, các thăm dò cận lâm sàng như siêu âm, Xquang hệ tiết niệu không chuẩn bị, chụp thận niệu quản có thuốc cản quang (UIV), chụp bể thận ngược dòng, xuôi dòng, chụp cắt lớp vi tính (CT),… sẽ cho chẩn đoán xác định.
Một số xét nghiệm tìm nguyên nhân trong một số trường hợp nghi ngờ bệnh lí chuyển hóa: đánh giá chức năng tuyến cận giáp, chức năng ống thận… phân tích thành phần sỏi sau khi can thiệp lấy sỏi.
HƯỚNG XỨ TRÍ SỎI TIẾT NIỆU
Các tình huống cấp cứu
Ứ mủ bể thận do sỏi bể thận hoặc niệu quản.
Vô niệu – suy thận cấp do tắc nghẽn đường dẫn nước tiểu. Chú ý sỏi niệu quản hai bên không được dùng thuốc lợi tiểu vì có thể gây tăng tình trạng ứ nước bể thận.
Cần theo dõi sát và cho nhập viện những bệnh nhân bị nôn dai dẳng, suy kiệt hoặc cao tuổi hay những bệnh nhân đau dữ dội nhưng không đáp ứng với các thuốc giảm đau thông thường.
Đái máu đại thể liên tục gây nên tình trạng thiếu máu.
Suy thận mạn từ mức độ vừa đến mức độ nặng.
Lựa chọn phương pháp điều trị
Phương hướng điều trị phụ thuộc vào 2 yếu tố chính: kích thước và vị trí của sỏi.
Điều trị nội khoa và ngoại khoa: chỉ định phụ thuộc vào: kích thước và vị trí của sỏi cũng như biến chứng do sỏi gây ra.
Kích thước của sỏi
Là đường kính lớn nhất đo được của sỏi, khi sỏi < 5mm thì cố gắng tác động để sỏi có thể rơi xuống bảng quang một cách tự nhiên.
Trong những trường hợp này thì sỏi thường xuống trong vòng 2 tuần và khoảng 80% số bệnh nhân không cần can thiệp gì ngoài điều trị nội khoa: thuốc giảm đau, giãn cơ trơn niệu quản và thuốc hỗ trợ như: Rovvatinex: thuốc này làm tăng quá trình lợi niệu và giãn cơ trơn niệu quản (liều dùng từ 1-2 viên/lần), 3 lần trong ngày, ngay trước bữa ăn. Ngoài ra, có thể dùng: kim tiền thảo viên hoặc sắc nước để uống.
Những bệnh nhân có sỏi cản quang mà chọn phương pháp điều trị bảo tồn, nên kiểm tra định kì siêu âm hoặc Xquang hệ tiết niệu không chuẩn bị 1-2 tháng/lần, uống nhiều nước để tăng lượng nước tiểu bài tiết.
Cần để ý biến chứng nhiễm khuẩn, theo dõi sát chức năng thận, vì dù là sỏi nhỏ nhưng nếu tắc nghẽn hoàn toàn niệu quản thì chức năng thận có thể bị suy giảm nghiêm trọng trong thời gian ngắn, có khi chỉ trong vòng 4 đến 8 tuần.
Bệnh nhân nên được gửi đến chuyên khoa tiết niệu khi kích thước của sỏi lớn hơn 5mm hoặc kích thước tuy nhỏ hơn 5mm nhưng sỏi không xuống được bàng quang sau 2-4 tuần điều trị bảo tồn để xem xét khả năng lấy sỏi.
Vị trí của sỏi
Sỏi thận với kích thước < 2cm thường được điều trị bằng phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể, tuy nhiên nếu sỏi nằm ở phía đài dưới của thận thì kết quả kém hơn. Trong trường hợp sỏi nằm ở vị trí này thì chỉ định tán sỏi khi sỏi < 1cm.
Sỏi niệu quản có kích thước dưới 1cm, tán sỏi ngoài cơ thể cũng được áp dụng cho một số trường hợp. Tuy nhiên, tác động có hại cho buồng trứng là một trong những trở ngại để chỉ định phương pháp này ờ nữ giới trong độ tuổi sinh đẻ mà có sỏi nằm ở 1/3 giữa hoặc 1/3 dưới của niệu quản.
Phương pháp mổ lấy sỏi qua da, được chỉ định cho các trường hợp sỏi thận có kích thước lớn và sỏi nằm ở niệu quản không có khả năng tán hoặc lấy sỏi qua nội soi.
Lấy sỏi qua nội soi: ờ các cơ sờ có điều kiện nội soi bàng quang-niệu quản và dụng cụ tán và lấy sỏi.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ