ĐẠI CƯƠNG:
Thủng ổ loét dạ dày – tá tràng ( DD – TT ) xếp thứ 2- 4 trong các bệnh lý cấp cứu ngoại khoa sau viêm ruột thừa cấp, tắc ruột, viêm tụy cấp. Thủng ổ loét là biến chứng nặng nề và trầm trọng của bệnh loét. Nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời biến chứng này sẽ đe doạ tính mạng bệnh nhân.
Theo y văn với thống kê của nhiều tác giả bệnh nhân thủng ổ loét DD – TT mổ muộn tỷ lệ tử vong từ 2,5 – 10%. Ở bệnh nhân già yếu tỷ lệ tử vong đến 30%. Bàn luận về thủng ổ loét DD – TT các tác giả trong cũng như ngoài nước đều có chung nhận xét:
Về lứa tuổi:
Thủng ổ loét DD – TT có thể thường gặp ở bất kỳ lứa tuổi nào từ trẻ sơ sinh đến người già 80 – 90 tuổi. Gặp nhiều nhất ở lứa tuổi lao động từ 30 – 50 tuổi. Đáng lưu ý thủng ổ loét DD – TT ở trẻ nhỏ:
Perkin ( 1929 ) gặp thủng dạ dày ở bệnh nhi 2 ngày tuổi
Finney ( 1900 ) thông báo thủng dạ dày ở cháu bé 2 tháng tuổi
Graivier và Steinberg ( 1966 ) thông báo 143 trẻ mới sinh bị thủng dạ dày trong đó 39 cháu có kết quả tốt sau mổ.
Theo S.H.Strônốp thống kê trong 50 năm ở nhiều nước trên thế giới có 50 trẻ nhỏ thủng dạ dày và tỷ lệ thủng dạ dày gặp ở lứa tuổi 20 – 40 chiếm tới 67%. Ở Việt Nam tại bệnh viện Việt Đức trong 20 năm có 2481 bệnh nhân thủng dạ dày tuổi trung bình là 38. Ở Việt Nam người cao tuổi nhất thủng dạ dày ở tuổi 98 ( Lê
Ngọc Quỳnh – 1995 ).
Về mùa:
Thủng ổ loét DD – TT có thể gặp bất cứ thời gian nào trong năm nhưng theo thống kê của nhiều tác giả ở nước ta hay gặp về mùa đông xuân, là thời kỳ giao thời, chuyển mùa thu sang đông, từ thu sang hè và cũng là thời gian bột phát của
bệnh loét DD – TT.
Về giới:
Đa số thủng ổ loét DD – TT gặp ở nam giới ( trên 90% ) tỷ lệ này theo y văn thế giới và ở Việt Nam tại các bệnh viện Việt Đức, quân y viện 103, quân Y viện 108, bệnh viện Việt Tiệp – Hải Phòng, bệnh viện Saint-Paul đều có tỷ lệ tương tự.
Trước đây ở nước ta thủng ổ loét DD – TT thường gặp sau bữa ăn thịnh soạn vì ở Việt Nam sự ăn uống rất quan trọng trong đời sống văn hoá ẩm thực và cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Mặc dù hiện nay tình hình kinh tế xã hội sung túc hơn xưa, cuộc sống được cải thiện tuy nhiên tỷ lệ thủng ổ loét dạ dày vẫn gặp nhiều trong các dịp tết, lễ hội hàng năm.
Thủng ổ loét DD – TT trong nhiều năm gần đây không có chiều hướng giảm mà tăng lên. Ở Liên Xô cũ hàng năm có 29000 trường hợp mổ liên quan đến thủng ổ loét DD – TT. Ở nước ta trong những năm của thập kỷ 50 – 60 thế kỷ trước theo Hoàng Qúi – 1961 tại bệnh viện Việt Tiệp – Hải Phòng có 10 trường hợp thủng dạ dày trong 9 tháng. Tại bệnh viện Việt Đức 3 cas/1 tháng ( Tôn Thất Tùng – 1961 ). Theo Đỗ Đức Vân ( 1995 ) thống kê 20 năm gần đây tỷ lệ thủng dạ dày khoảng 10 cas/1 tháng. Tại bệnh viện 103 giai đoạn 1984 – 1993 có 189 trường hợp thủng ổ
loét DD – TT, 10 năm tiếp theo 1994 – 2003 có 368 trường hợp.
GIẢI PHẪU BỆNH:
Lỗ thủng:
Thường gặp chủ yếu chỉ có 1 lỗ thủng, rất hiếm khi có 2 hay nhiều lỗ thủng. Lỗ thủng hay gặp trên nền ổ loét xơ chai, có thể ở ổ loét non hoặc thủng khối u dạ
dày.
Vị trí thủng:
Chủ yếu lỗ thủng ở mặt trước hành tá tràng hoặc bờ cong nhỏ dạ dày nên dịch chảy ra ổ bụng tự do, dễ dàng. Lỗ thủng ở mặt sau gặp ít hơn nhưng nếu thủng ở mặt sau hành tá tràng lỗ thủng thường được tụy và các tạng lân cận bít lại.
Tỷ lệ thủng loét tá tràng cao hơn thủng dạ dày, tuy nhiên trong những năm gần đây do sự phát triển của công nghiệp hoá – dược phẩm, các loại thuốc chống loét như: chẹn bơm proton làm giảm tiết dịch vị hoặc thuốc kháng thụ thể H2. Cũng như vai trò của xoắn khuẩn ( Campylobacter Pylori ) phát hiện được ở 100% các trường hợp loét dạ dày và 94% loét tá tràng ( Quintero G.A-1989 ). Do đó hiệu quả điều trị viêm loét dạ dày tá tràng ngày càng tốt hơn nên tỷ lệ thủng tá tràng có
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ