Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Tóm tắt hướng dẫn thực hành lâm sàng trong viêm não thất và viêm màng não liên quan tới chăm sóc y tế

23 phút đọc

Tóm tắt dưới đây là những khuyến cáo dành cho việc đánh giá, chẩn đoán và điều trị viêm não thất và viêm màng não liên quan tới chăm sóc y tế, đặc biệt là việc đề cập tới cách tiếp cận các nhiễm trùng liên quan tới chuyển lưu dịch não tủy, dẫn lưu dịch não tủy, điều trị thuốc nội tủy, vật liệu kích thích não sâu, phẫu thuật thần kinh và chấn thương đầu.

Tunkel A. R., Hasbun R., Bhimraj A. et al.

Clinical Infectious Diseases 2017; 64 (6):e34–e65

Người dịch: TS. BS. Lương Quốc Chính

Khoa Cấp cứu, Bệnh viện Bạch Mai

TÓM TẮT

Viêm màng não có thể không chỉ mắc phải trong cộng đồng mà nó còn có thể liên quan tới rất nhiều thủ thuật xâm lấn hoặc chấn thương đầu. Nhóm thứ hai thường được phân loại là viêm màng não bệnh viện (nosocomial meningitis) bởi vì một loạt các vi sinh vật khác nhau (ví dụ: các trực khuẩn gram-âm kháng thuốc/resistant gram-negative bacilli và các tụ cầu khuẩn/staphylococci) có nhiều khả năng là tác nhân gây bệnh, và các cơ chế bệnh sinh khác nhau có liên quan tới sự phát triển của bệnh này. Mặc dù nhiều bệnh nhân viêm màng não bệnh viện biểu hiện các triệu chứng lâm sàng trong thời gian nằm viện nhưng viêm não thất và viêm màng não cũng có thể xuất hiện sau khi ra viện hoặc thậm chí sau nhiều năm. Vì vậy, thuật ngữ viêm não thất và viêm màng não liên quan tới chăm sóc y tế (healthcare-associated ventriculitis and meningitis) được sử dụng phổ biến hơn thuật ngữ viêm màng não bệnh viện (nosocomial meningitis) vì nó đại diện cho nhiều cơ chế khác nhau hơn (bao gồm cả việc đặt các thiết bị) mà có thể dẫn tới bệnh lý nghiêm trọng này.

Tóm tắt dưới đây là những khuyến cáo dành cho việc đánh giá, chẩn đoán và điều trị viêm não thất và viêm màng não liên quan tới chăm sóc y tế, đặc biệt là việc đề cập tới cách tiếp cận các nhiễm trùng liên quan tới chuyển lưu dịch não tủy (cerebrospinal fluid shunts), dẫn lưu dịch não tủy (cerebrospinal fluid drain), điều trị thuốc (ví dụ: baclofen) nội tủy (intrathecal drug therapy), vật liệu kích thích não sâu (deep brain stimulation hardware), phẫu thuật thần kinh và chấn thương đầu. Các nhiễm trùng này có thể rất khó chẩn đoán do bởi những thay đổi các thông số trong dịch não tủy thường rất tinh tế làm cho việc xác định các bất thường liên quan tới nhiễm trùng, liên quan tới việc đặt các thiết bị hoặc sau phẫu thuật thần kinh… trở lên khó khăn. Nhiều khuyến cáo dựa vào ý kiến chuyên gia bởi vì không có sẵn dữ liệu lâm sàng chặt chẽ và khả năng mà các thử nghiệm lâm sàng sẽ được thực hiện để trả lời một số câu hỏi này là thấp. Mục tiêu là xây dựng các hướng dẫn cung cấp cách tiếp cận thiết thực và hữu ích để hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng trong việc điều trị các nhiễm trùng đầy thử thách này. Ban hội thẩm tuân theo một quy trình được sử dụng trong việc xây dựng các hướng dẫn khác của Hội các bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ (IDSA) bao gồm việc xử lý chắc chắn một cách hệ thống độ mạnh của các khuyến cáo và chất lượng của bằng chứng sử dụng trong hệ thống GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation) (Hình 1) [1],[2],[3],[4],[5]. Mô tả chi tiết về phương pháp, kiến thức nền tảng và các tóm tắt bằng chứng để hỗ trợ cho mỗi khuyến cáo có thể được tìm thấy trong bản toàn văn của hướng dẫn [6].

 

Hình 1. Cách tiếp cận và những gợi ý để đánh giá chất lượng bằng chứng (quality of evidence) và độ mạnh của các khuyến cáo (strength of recommendations) bằng việc sử dụng phương pháp luận GRADE (Grading of Recommendations Assessment, Development and Evaluation).

Các dấu hiệu và triệu chứng điển hình ở bệnh nhân viêm não thất và viêm màng não liên quan tới chăm sóc y tế là gì?

Chuyển lưu dịch não tủy và dẫn lưu dịch não tủy

Các khuyến cáo

Các dấu hiệu và triệu chứng mới xuất hiện như nhức đầu, buồn nôn, ngủ gà (lethargy) và/hoặc rối loạn ý thức gợi ý tới nhiễm trùng chuyển lưu dịch não tủy (cerebrospinal fluid shunt) (mạnh, trung bình).

Đỏ và ấn đau trên khắp đường ống chuyển lưu (shunt tubing) dưới da gợi ý tới nhiễm trùng chuyển lưu dịch não tủy (cerebrospinal fluid shunt) (mạnh, trung bình).

Sốt, trong trường hợp không có nguồn nhiễm trùng rõ ràng nào khác, có thể gợi ý tới nhiễm trùng chuyển lưu dịch não tủy (cerebrospinal fluid shunt) (yếu, thấp).

Các triệu chứng và dấu hiệu của viêm phúc mạc hoặc đau vùng bụng ở bệnh nhân có chuyển lưu não thất-ổ bụng (ventriculoperitoneal shunt), trong trường hợp không có nguyên nhân rõ ràng nào khác, là biểu hiện của nhiễm trùng chuyển lưu dịch não tủy (cerebrospinal fluid shunt) (mạnh, trung bình).

Các triệu chứng và dấu hiệu của viêm màng phổi ở bệnh nhân có chuyển lưu não thất-màng phổi (ventriculopleural shunt), trong trường hợp không có nguyên nhân rõ ràng nào khác, là biểu hiện của nhiễm trùng chuyển lưu dịch não tủy (cerebrospinal fluid shunt) (mạnh, trung bình).

Biểu hiện nhiễm trùng máu (demonstration of bacteremia) ở bệnh nhân có chuyển lưu não thất-tâm nhĩ (ventriculoatrial shunt), trong trường hợp không có nguồn nhiễm trùng máu rõ ràng nào khác, là bằng chứng của nhiễm trùng chuyển lưu dịch não tủy (cerebrospinal fluid shunt) (mạnh, trung bình).

Biểu hiện viêm tiểu cầu thận (demonstration of glomerulonephritis) ở bệnh nhân có chuyển lưu não thất-tâm nhĩ (ventriculoatrial shunt) gợi ý tới nhiễm trùng chuyển lưu dịch não tủy (cerebrospinal fluid shunt) (yếu, thấp).

Tình trạng rối loạn ý mới xuất hiện hoặc xấu đi ở bệnh nhân có dẫn lưu não thất ra ngoài (external ventricular drain) gợi ý tới tình trạng nhiễm trùng (yếu, thấp).

Sốt mới xuất hiện và số lượng bạch cầu dịch não tủy tăng ở bệnh nhân có dẫn lưu não thất ra ngoài (external ventricular drain) có thể gợi ý tới tình trạng nhiễm trùng (yếu, thấp).

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ