TỔNG QUAN LÂM SÀNG: Đau Bụng Cấp và Mạn tính ở Người Lớn (Acute and Chronic Abdominal Pain in Adults)
Elsevier Point of Care. Cập nhật ngày 30 tháng 1, 2025. Bản quyền Elsevier BV. Đã đăng ký bản quyền.
Dịch và chú giải: Bs.Ths. Lê Đình Sáng
Tóm tắt
Xử trí Cấp cứu
Bệnh nhân đến khám với đau bụng và rối loạn huyết động cần được đánh giá ngay lập tức và ổn định đường thở, hô hấp, tuần hoàn cũng như siêu âm khẩn cấp tại giường
Những Điểm Chính
- Đau bụng là cảm giác đau khu trú hoặc lan tỏa ở vùng bụng; có thể cảm nhận là đau bên trong hoặc bên ngoài (thành bụng), mặc dù trong một số trường hợp có thể khó phân biệt
- Có thể phân loại là cấp tính (khởi phát trong vài ngày), bán cấp, hoặc mạn tính (kéo dài 6 tháng trở lên), và có thể cần can thiệp cấp cứu (trong vòng 24 giờ) hoặc không cấp cứu
- Nguyên nhân phổ biến nhất là từ trong ổ bụng và thành bụng, nhưng các bệnh lý ngoài ổ bụng (như viêm phổi thùy dưới, nhồi máu cơ tim, thuyên tắc phổi) đôi khi cũng gây cảm giác đau bụng
- Chẩn đoán dựa trên khai thác cẩn thận bệnh sử ghi nhận thời gian, tính chất, vị trí và sự lan tỏa của cơn đau, cộng với các yếu tố làm nặng và giảm nhẹ; tiền sử bệnh trước đó (bao gồm các đợt tương tự), tiền sử gia đình và tiền sử xã hội có thể cung cấp các manh mối quan trọng
- Khám thực thể bao gồm quan sát (bao gồm tổng trạng, hành vi và tư thế ưu tiên), nghe, gõ và sờ nắn; một số thao tác chẩn đoán đã được liên hệ với các bệnh lý cụ thể. Ở bệnh nhân đau cấp tính, có thể cần khám lại nhiều lần khi tình trạng tiến triển và bộc lộ rõ hơn
- Xét nghiệm phù hợp cho tất cả bệnh nhân đến khám với đau bụng cấp nặng và có thể cung cấp manh mối chẩn đoán (ví dụ: lipase tăng, tinh thể trong nước tiểu) cũng như dữ liệu nền cần thiết để quản lý bệnh nhân nặng
- Chẩn đoán hình ảnh là cần thiết và thường được hướng dẫn bởi vị trí đau và chẩn đoán phân biệt của bác sĩ dựa trên bệnh sử và khám lâm sàng; Hiệp hội X quang Hoa Kỳ cung cấp khuyến nghị dựa trên bằng chứng cho các tình huống lâm sàng khác nhau
- Điều trị thực nghiệm ngay lập tức thường được yêu cầu đối với bệnh nhân đến khám với đau bụng cấp và có thể bao gồm các biện pháp hồi sức, giảm đau và kháng sinh; điều trị triệt để phụ thuộc vào chẩn đoán cuối cùng
- Ở khoảng một phần ba đến 40% bệnh nhân đau bụng cấp, không thể xác định được nguyên nhân
Những Điểm Cần Chú ý
- Người cao tuổi và bệnh nhân đang điều trị corticosteroid có thể có biểu hiện không điển hình, với các dấu hiệu tinh tế hơn
- Phụ nữ mang thai có thể có biểu hiện không điển hình do giải phẫu bụng thay đổi, với sự di chuyển của các cơ quan do tử cung to
- Ở bệnh nhân có đau mạn tính hoặc tái phát, một đợt bùng phát có vẻ tương tự có thể che lấp sự khởi phát của một tình trạng mới
Thuật ngữ
Làm rõ về Lâm sàng Đau bụng là cảm giác đau khu trú hoặc lan tỏa ở vùng bụng; có thể cảm nhận là đau bên trong hoặc bên ngoài (thành bụng), mặc dù trong một số trường hợp có thể khó phân biệt
Nguyên nhân phổ biến nhất là từ trong ổ bụng và thành bụng nhưng các bệnh lý ngoài ổ bụng cũng đôi khi gây cảm giác đau bụng
Phân loại
Dựa trên bệnh sử và thời gian
- Cấp tính: khởi phát trong vòng vài ngày khi đến khám
- Bán cấp: kéo dài hơn vài ngày nhưng dưới 6 tháng
- Mạn tính: đau dai dẳng hoặc ngắt quãng trong thời gian 6 tháng trở lên
Dựa trên mức độ nặng của tình trạng và nhu cầu can thiệp kịp thời
- Cấp cứu (cần điều trị trong vòng 24 giờ) so với không cấp cứu (không cần điều trị trong vòng 24 giờ)
- Nguy kịch hoặc cấp cứu (đe dọa tính mạng ngay lập tức) so với khẩn cấp (cần đánh giá và điều trị nhanh nhưng không đe dọa tính mạng ngay lập tức)
Chẩn đoán
Biểu hiện Lâm sàng
Bệnh sử
Bệnh sử nên cố gắng thiết lập một dòng thời gian chi tiết về cơn đau bao gồm: khởi phát và diễn tiến (ví dụ: đột ngột, từ từ, tiến triển); tính chất (ví dụ: nhói, âm ỉ, đau thắt); cường độ; vị trí, lan tỏa, bức xạ; các yếu tố khởi phát, làm nặng và giảm nhẹ; mô hình và thời gian (ví dụ: cấp tính, mạn tính, dai dẳng, từng đợt)
Đối với bệnh nhân có đau mạn tính hoặc tái phát, cần xác định xem có bất kỳ thay đổi nào gần đây về vị trí hoặc tính chất của cơn đau hay không
Các triệu chứng đi kèm có thể cung cấp manh mối quan trọng (ví dụ: sốt, nôn, nôn ra máu, tiểu khó, tiêu chảy, phân đen/phân có máu, táo bón, không trung tiện)
Tiền sử dùng thuốc có thể chỉ ra các nguyên nhân tiềm ẩn (ví dụ: NSAIDs liên quan đến bệnh loét dạ dày tá tràng; thuốc chống đông có thể làm giảm ngưỡng chảy máu trong ổ bụng; thuốc ức chế miễn dịch có thể thúc đẩy nhiễm trùng trong ổ bụng; thuốc giảm đau có thể gây táo bón)
Đánh giá kỹ các bệnh lý hiện tại và tiền sử bệnh trước đây có thể xác định các tình trạng có thể liên quan đến đau bụng trong các đợt bùng phát (ví dụ: tăng ure máu, nhiễm toan ceton do đái tháo đường, cơn suy thượng thận) hoặc biến chứng (ví dụ: thuyên tắc do rung nhĩ hoặc bệnh xơ vữa động mạch nặng)
Bao gồm tiền sử phẫu thuật bụng và vùng chậu trước đây và tìm hiểu giải thích về bất kỳ sẹo bụng nào quan sát được khi khám
Bệnh nhân đã từng trải qua đau do một tình trạng tái phát (ví dụ: sỏi thận, viêm túi thừa) có thể báo cáo cơn đau tương tự với đợt trước đó
Tiền sử gia đình có thể chỉ ra các rối loạn di truyền liên quan đến đau bụng như bệnh hồng cầu hình liềm, bệnh porphyria, hoặc sốt địa trung hải gia đình
Tiền sử xã hội có thể có ích
- Hút thuốc liên quan đến phình động mạch chủ và xơ vữa động mạch
- Sử dụng cocaine liên quan đến thiếu máu cục bộ mạc treo
- Có bạn tình mới hoặc nhiều bạn tình liên quan đến bệnh viêm vùng chậu
Khám thực thể
Đau bụng cấp tính
Tổng trạng và dấu hiệu sinh tồn của bệnh nhân có thể cung cấp manh mối về mức độ nặng của cơn đau, và một số đặc điểm lâm sàng thường liên quan đến một số chẩn đoán:
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ