Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Ung thư Vú – Con đường Đa chuyên khoa cho Chăm sóc Ung thư tại Cộng đồng. CHƯƠNG 7. CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN NGOẠI KHOA ĐƯƠNG ĐẠI TRONG UNG THƯ VÚ

219 phút đọc

Ung thư Vú – Con đường Đa chuyên khoa cho Chăm sóc Ung thư tại Cộng đồng
Chủ biên: James L. Weese MD FACS. (C) Nhà xuất bản Elsevier 2025.
Biên dịch: Ths.Bs. Lê Đình Sáng, Ths.BS. Nguyễn Viết Bình (Đồng chủ biên). Ts.Bs. Nguyễn Hải Hoàng, Ts.BS. Nguyễn Văn Đăng.

Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website yhoclamsang.net và sachyhoc.com vì mục đích chia sẻ tri thức, hoàn toàn phi lợi nhuận. Nghiêm cấm thương mại hoá bản dịch này dưới bất kỳ hình thức nào.


PHẦN 3. ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÚ TRONG CỘNG ĐỒNG


CHƯƠNG 7. CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN NGOẠI KHOA ĐƯƠNG ĐẠI TRONG UNG THƯ VÚ

Contemporary Surgical Approaches to Breast Cancer
Ashley Marumoto; Armando E. Giuliano; Ameer Gomberawalla; Nicole M. Zaremba; Harry Nayar

Breast Cancer, 7, 45-86


KỸ THUẬT SINH THIẾT

ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG

Sinh thiết các tổn thương vú đáng ngờ là quy trình bắt buộc trước khi xem xét bất kỳ can thiệp phẫu thuật nào.

Bối Cảnh Lịch Sử

Trong lịch sử, việc sinh thiết các tổn thương vú đáng ngờ yêu cầu phải tiến hành cắt bỏ bằng ngoại khoa. Các tổn thương được lấy mẫu và gửi đi cắt lạnh sinh thiết (Frozen Section) trước khi thực hiện phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú triệt căn hoặc triệt căn biến đổi. Mãi đến những năm 1970, sinh thiết qua da mới được giới thiệu như một phương pháp thay thế. Sinh thiết dưới hướng dẫn của chẩn đoán hình ảnh lần đầu tiên được Roberts và cộng sự mô tả vào năm 1975. Tuy nhiên, kỹ thuật này không được ứng dụng rộng rãi cho đến năm 1993 sau sự thành công của phương pháp sinh thiết kim lõi (Core Needle Biopsy – CNB) dưới hướng dẫn của siêu âm. Thời gian phục hồi ngắn hơn, giảm chi phí, ít biến chứng hơn và sẹo nhỏ hơn đã làm cho sinh thiết qua da trở nên ưu việt hơn so với sinh thiết ngoại khoa. Hơn nữa, việc sử dụng kỹ thuật sinh thiết xâm lấn tối thiểu để thiết lập chẩn đoán ung thư vú trước bất kỳ thủ thuật ngoại khoa nào là một Tiêu chuẩn Chất lượng Tuyến vú của Hiệp hội Phẫu thuật viên Tuyến vú Hoa Kỳ (American Society of Breast Surgeons – ASBrS). Vì những lý do này, sinh thiết qua da dưới hướng dẫn của hình ảnh được ưu tiên và thực hiện phổ biến.

Chỉ Định

Hệ thống Dữ liệu và Báo cáo Hình ảnh Tuyến vú (Breast Imaging and Reporting Data Systems – BI-RADS) đối với chụp nhũ ảnh (Mammography) được thiết lập vào năm 1993. Hệ thống BI-RADS mô tả các phát hiện hình ảnh chính và phân loại các tổn thương vú vào các nhóm khác nhau, nhằm cung cấp định hướng cho việc quản lý và theo dõi. Các tổn thương thuộc nhóm BI-RADS 4 hoặc 5 trên chụp nhũ ảnh bắt buộc phải được đánh giá thêm bằng sinh thiết. Siêu âm và chụp cộng hưởng từ (Magnetic Resonance Imaging – MRI) là các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác sở hữu tiêu chí riêng để xác định các tổn thương vú bất thường cần sinh thiết.

Chọc Hút Bằng Kim Nhỏ So Với Sinh Thiết Kim Lõi

Đối với các tổn thương vú, sinh thiết kim lõi được ưu tiên hơn phương pháp chọc hút bằng kim nhỏ (Fine Needle Aspiration – FNA). Sinh thiết kim lõi cung cấp cái nhìn đánh giá về mô học của mô, trong khi chọc hút kim nhỏ chỉ đánh giá được tế bào học và không thể phân biệt ung thư xâm lấn với ung thư tại chỗ (không xâm lấn). Ngoài ra, tình trạng dấu ấn sinh học (Biomarker) là một thành phần cốt lõi trong chẩn đoán ung thư vú và rất khó thực hiện với mẫu tế bào học từ chọc hút kim nhỏ. Phương pháp này cũng liên quan đến tỷ lệ mẫu không đủ tiêu chuẩn cao hơn và tỷ lệ âm tính giả cao hơn. Tuy nhiên, chọc hút bằng kim nhỏ thường có thể đưa ra chẩn đoán khi các hạch bạch huyết nách đang được lấy mẫu gần một mạch máu lớn hoặc khi cần đánh giá các tổn thương dạng nang.

Các Loại Kim Và Thiết Bị

Hiện nay có sẵn cả thiết bị sinh thiết sử dụng lò xo và thiết bị hỗ trợ hút chân không. Thiết bị hỗ trợ hút chân không mang lại ưu điểm là chỉ cần đâm kim một lần nhưng vẫn lấy được mẫu mô lớn hơn và lấy mẫu mô rộng hơn nhờ vào cơ chế dao cắt xoay. Kích thước kim thường dao động từ 7 đến 14 gauge (đường kính ngoài tương đương 4.5 mm đến 2.1 mm) và thay đổi tùy thuộc vào loại thiết bị cũng như phương pháp chẩn đoán hình ảnh hướng dẫn. Số lượng mẫu mô thu được cũng thay đổi theo kích thước kim; kim nhỏ hơn sẽ yêu cầu lấy nhiều mẫu hơn để đảm bảo độ chính xác.

Tổn Thương Có Thể Sờ Thấy So Với Tổn Thương Không Sờ Thấy

Tổn thương vú được phân thành loại có thể sờ thấy và loại ẩn khuất trên lâm sàng (không sờ thấy). Nếu một tổn thương có thể sờ thấy, sinh thiết dưới hướng dẫn của siêu âm là lựa chọn được khuyến nghị. Đối với các tổn thương không thể sờ thấy, chẩn đoán hình ảnh định vị không gian ba chiều (Stereotactic Imaging), siêu âm hoặc MRI là cần thiết để xác định và sinh thiết tổn thương. Việc lựa chọn phương pháp phụ thuộc vào khả năng quan sát tổn thương trên các phương tiện chẩn đoán cũng như tính thuận tiện về mặt kỹ thuật. Ví dụ, nếu một tổn thương được nhìn thấy rõ trên cả chụp nhũ ảnh và siêu âm, siêu âm sẽ là phương pháp hướng dẫn sinh thiết được ưu tiên do tính dễ dàng và đơn giản về kỹ thuật so với sinh thiết định vị không gian ba chiều. Đối với các tổn thương được phát hiện qua nhiều phương pháp hình ảnh khác nhau, bác sĩ chẩn đoán hình ảnh phải đảm bảo rằng các tổn thương mục tiêu là tương đồng trên tất cả các hình ảnh.

Hình 7.1 Sinh thiết định vị không gian ba chiều ở tư thế nằm sấp.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ