TỔNG QUAN LÂM SÀNG: Ngộ độc NSAID
Steven J. Walsh, MD Cập nhật ngày 20 tháng 1, 2025. Bản quyền Elsevier BV. Bảo lưu mọi quyền.
Dịch, vẽ hình và chú giải: Ths.Bs. Lê Đình Sáng
I. TÓM TẮT

Lược đồ tóm tắt thuật toán chẩn đoán và điều trị ngộ độc NSAID
II. ĐIỂM CHÍNH
- NSAID là một nhóm hợp chất hóa học không đồng nhất có tác dụng ức chế tổng hợp prostaglandin
- Thuốc chống viêm không steroid là một trong những loại thuốc được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới
- Chẩn đoán dựa trên tiền sử, khám lâm sàng và đánh giá xét nghiệm
- Hầu hết bệnh nhân bị ngộ độc NSAID phát triển các triệu chứng nhẹ bao gồm buồn nôn và khó chịu ở bụng, chỉ cần điều trị lâm sàng tối thiểu ngoài thuốc chống nôn, loại trừ các chất đồng nhiễm và đánh giá nguy cơ tâm thần
- Rối loạn hệ thần kinh trung ương (như hôn mê, co giật) và xuất huyết tiêu hóa nặng hiếm gặp trong quá liều cấp tính lớn, nhưng có thể xảy ra trong trường hợp uống nhiều và thường gặp hơn trong ngộ độc/sử dụng NSAID mạn tính
- Than hoạt tính hoặc ECMO (oxy hóa màng ngoài cơ thể) có thể được chỉ định trong trường hợp ngộ độc nặng hoặc đe dọa tính mạng; tham khảo ý kiến chuyên khoa độc chất hoặc Trung tâm Chống độc để có khuyến nghị cụ thể cho từng ca
- Nhập viện theo dõi bệnh nhân bị ngộ độc NSAID có triệu chứng; bệnh nhân không có triệu chứng sau 4-6 giờ theo dõi có thể xuất viện (sau đánh giá tâm thần nếu có chỉ định)
- Trong điều kiện chẩn đoán kịp thời, bệnh nhân có thể hồi phục hoàn toàn
- Hỏi và tư vấn cho bệnh nhân đến khám với các triệu chứng tiêu hóa về việc sử dụng NSAID
III. DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG BÁO ĐỘNG
- Rối loạn thần kinh trung ương (ví dụ: hôn mê, co giật)
- Toan chuyển hóa
IV. THÔNG TIN CƠ BẢN
- Thuật ngữ
- NSAID (thuốc chống viêm không steroid) là một nhóm thuốc có cấu trúc đa dạng có tác dụng ức chế tổng hợp prostaglandin
- NSAID có thể được chia thành các acid carboxylic, acid enolic và các hợp chất ức chế chọn lọc cyclooxygenase-2 (chất ức chế COX-2) (xem Bảng 1)
- Thuật ngữ “NSAID” về mặt kỹ thuật bao gồm salicylate, nhưng nhóm hợp chất phụ này có đặc điểm riêng và nằm ngoài phạm vi của bài tổng quan này
- Thông tin nền
- Ibuprofen và naproxen là các NSAID đường uống phổ biến nhất có sẵn không kê đơn ở Hoa Kỳ; diclofenac dạng bôi cũng có sẵn không cần kê đơn
- NSAID cũng được bao gồm trong các chế phẩm ho và cảm lạnh, trong các thuốc kê đơn kết hợp (ví dụ: ibuprofen với hydrocodone), và đôi khi là tạp chất hoặc chất nhiễm bẩn trong thực phẩm chức năng và điều trị tự nhiên
- Dịch tễ học
- NSAID là một trong những loại thuốc được sử dụng và kê đơn phổ biến nhất trên thế giới
- Khoảng 15% bệnh nhân mắc bệnh thấp khớp được kê đơn NSAID
- 20% người trưởng thành ở Hoa Kỳ sử dụng NSAID cho các vấn đề thông thường (ví dụ: sốt, đau cấp tính, chấn thương chỉnh hình, bệnh thấp khớp)
- NSAID hàng năm nằm trong những chất phơi nhiễm được báo cáo phổ biến nhất tới các Trung tâm Chống độc Hoa Kỳ
- 89.463 trường hợp phơi nhiễm NSAID tổng cộng đã được ghi nhận bởi các Trung tâm Chống độc Hoa Kỳ trong năm 2020 (lưu ý những con số này bao gồm cả các sản phẩm kết hợp [ví dụ: ibuprofen/hydrocodone])
- 1,73% được phân loại là “ảnh hưởng trung bình” do phơi nhiễm
- 0,15% được phân loại là “ảnh hưởng nặng” do phơi nhiễm
V. NGUYÊN NHÂN VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ
- Nguyên nhân
- NSAID ức chế tổng hợp prostaglandin, từ đó làm giảm sản xuất các hợp chất tiền viêm ở hạ nguồn (ví dụ: thromboxane A2, prostacyclin, leukotrienes)

Cơ chế sinh lý bệnh của ngộ độc NSAIDs. Vẽ hình: Bs Lê Đình Sáng
- Hầu hết NSAID thực hiện điều này bằng cách ức chế không chọn lọc các enzyme cyclooxygenase COX-1 và COX-2 theo cơ chế cạnh tranh, có thể hồi phục
- Ức chế COX-1 làm gián đoạn chức năng tiểu cầu và cân bằng nội môi mô bình thường, dẫn đến các tác dụng phụ có hại (ví dụ: ức chế kết tập tiểu cầu, suy giảm lưu lượng máu cầu thận dẫn đến tổn thương thận, thoái hóa niêm mạc dạ dày-ruột với xói mòn kèm theo)
- Các chất ức chế COX-2 được phát triển để tránh những tác dụng này; tuy nhiên, rofecoxib và valdecoxib đã bị rút khỏi thị trường do tăng nguy cơ tim mạch
- Xem Bảng 1 về các nhóm và dược lý học của các NSAID thông thường
Bảng 1. Các nhóm và dược lý học của các NSAID thông thường
| Tên thuốc | Thời gian đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương (giờ) | Thời gian bán thải (giờ) | Dược động học | Đặc điểm riêng |
|---|---|---|---|---|
| Các acid carboxylic | ||||
| Diclofenac | 2 đến 3 | 1 đến 2 | Chuyển hóa qua gan bước đầu, chuyển hóa qua CYP2C19 | Độc tính gan; có thể dùng đường bôi |
| Etodolac | 1 | 7 | Chuyển hóa qua gan | Tác dụng co mạch vành |
| Indomethacin | 1 đến 2 | 2 đến 5 | 50% khử methyl | Tác dụng chống viêm kém; có thể dùng đường bôi |
| Ibuprofen | dưới 0,5 | 2 đến 4 | Chuyển hóa qua gan; thải trừ qua nước tiểu | Có dạng dùng đường tiêm |
| Ketoprofen | 1 đến 2 | 2 | Chuyển hóa qua gan; thải trừ qua nước tiểu | Đối kháng bradykinin |
| Ketorolac | dưới 1 | 4 đến 6 | Thải trừ qua nước tiểu | Có dạng dùng đường tiêm |
| Acid mefenamic | 2 đến 4 | 3 đến 4 | Thải trừ qua nước tiểu | Co giật |
| Naproxen | 1 | 14 | Tăng thời gian bán thải khi suy thận | Ức chế tiểu cầu kéo dài |
| Oxaprozin | 3 đến 6 | 40 đến 60 | Chuyển hóa qua gan | Dùng một lần/ngày; có thể gây dương tính giả với benzodiazepine trong xét nghiệm nước tiểu |
| Sulindac | 1 đến 2 | 7 | Chất chuyển hóa hoạt tính với thời gian bán thải 18 giờ | Độc tính gan |
| Các acid enolic | ||||
| Meloxicam | 5 đến 10 | 15 đến 20 | Chuyển hóa qua CYP2C19 | Chọn lọc cao với COX-2 |
| Piroxicam | 3 đến 5 | 45 đến 50 | Chuyển hóa qua CYP2C19 | Ức chế hoạt hóa bạch cầu trung tính |
| Phenylbutazone | 2 | 54 đến 99 | Chuyển hóa qua gan | Giảm bạch cầu hạt không hồi phục; thiếu máu bất sản |
| Chất ức chế COX-2 chọn lọc | ||||
| Celecoxib | 2 đến 4 | 6 đến 12 | Chuyển hóa qua CYP2C19 | Ức chế CYP2D6 |
Chú thích: Điều chỉnh từ Holubek WJ. Nonsteroidal antiinflammatory drugs. Trong: Nelson LS et al, eds. Goldfrank’s Toxicologic Emergencies. Xuất bản lần thứ 11. McGraw-Hill; 2019:chương 35.
- Yếu tố nguy cơ
- Bệnh nhân bị giảm thể tích hoặc giảm cung lượng tim có nguy cơ cao bị tổn thương thận cấp thứ phát do ngộ độc NSAID cấp tính và/hoặc mạn tính
- Những bệnh nhân này có nồng độ các chất gây co mạch thận tăng cao (từ hệ thần kinh giao cảm và trục renin-angiotensin-aldosterone)
- Sử dụng NSAID ức chế sản xuất prostaglandin vốn thường cung cấp tác dụng giãn mạch bù trừ, do đó gây co mạch thận đi vào và giảm lưu lượng máu thận/mức lọc cầu thận sau đó
- Các yếu tố nguy cơ gây tác dụng đáng kể trên đường tiêu hóa bao gồm:
- Thời gian và liều lượng NSAID
- Sử dụng đồng thời steroid, thuốc chống đông máu và/hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu
- Tuổi
- Tiền sử loét dạ dày-ruột
- Tình trạng nhiễm Helicobacter pylori
VI. CHẨN ĐOÁN
- Tiếp cận chẩn đoán
- Chẩn đoán dựa trên tiền sử, khám lâm sàng và đánh giá xét nghiệm
- Thu thập thông tin chi tiết về việc uống thuốc (ý định, thời gian, liều lượng, dạng bào chế) cũng như các triệu chứng gợi ý ngộ độc (ví dụ: các triệu chứng tiêu hóa, triệu chứng thần kinh) từ bệnh sử
- Xét nghiệm điện giải đồ, công thức máu, nồng độ các thuốc khác bệnh nhân đang dùng, nồng độ acetaminophen và salicylate, và xét nghiệm thai (nếu có chỉ định)
- Đối với bệnh nhân có biểu hiện thần kinh đáng kể (ví dụ: ức chế thần kinh trung ương), cần đánh giá thêm tình trạng thông khí và cân bằng acid-base bằng xét nghiệm khí máu
- Điện tim và chẩn đoán hình ảnh thường không được chỉ định, nhưng chụp CT sọ não có thể được sử dụng để phân biệt ngộ độc NSAID với các nguyên nhân bệnh lý khác hoặc nếu có nhiễm độc đáng kể kèm theo
- Quá trình đánh giá
a) Bệnh sử Xác định các thông tin sau:
- Ý định uống thuốc (tức là quá liều cố ý so với vô ý)
- Tính cấp tính của việc uống thuốc (tức là cấp tính so với mạn tính)
- Thời gian và thời lượng sử dụng
- Tổng lượng thuốc được báo cáo đã uống
- Ngộ độc đáng kể từ ibuprofen hiếm khi xảy ra với liều cấp tính dưới 200 mg/kg đến 400 mg/kg
- Nhiều trung tâm chống độc khu vực sẽ theo dõi bệnh nhân uống ibuprofen liều dưới 100 mg/kg tại nhà
- Bất kỳ chất nào khác mà bệnh nhân có thể đã uống/sử dụng
b) Ngộ độc có triệu chứng do uống thuốc cấp tính
- Hầu hết bệnh nhân bị quá liều cấp tính, bất kể loại NSAID cụ thể nào được uống, sẽ có triệu chứng trong vòng 4 đến 6 giờ sau khi uống
- Biểu hiện lâm sàng ban đầu của ngộ độc NSAID cấp tính thường nhẹ và chủ yếu là các triệu chứng tiêu hóa (ví dụ: buồn nôn, nôn, đau bụng)
- Các hậu quả nặng hơn hiếm gặp và bao gồm bệnh lý thần kinh trung ương, toan chuyển hóa liên quan đến lactate, hạ huyết áp, hạ thân nhiệt, tiêu cơ vân, rối loạn điện giải, suy đa cơ quan và tử vong
- Các tác dụng thần kinh của NSAID thay đổi từ buồn ngủ nhẹ, ù tai (mặc dù phổ biến hơn với ngộ độc salicylate), đau đầu và chóng mặt đến ức chế thần kinh trung ương, hôn mê và co giật
- Cơ chế gây ức chế thần kinh trung ương chưa được biết rõ; tuy nhiên, các nghiên cứu trên động vật cho thấy có sự tương tác chéo với thụ thể opioid
- Một báo cáo ca đơn lẻ trên người mô tả việc đảo ngược tình trạng ức chế thần kinh trung ương bằng liều cao naloxone
c) Ngộ độc có triệu chứng do sử dụng mạn tính
- Các tác dụng trên đường tiêu hóa từ khó tiêu nhẹ đến hình thành loét dẫn đến xuất huyết và thủng đe dọa tính mạng
- Khó tiêu xảy ra ở tới 60% bệnh nhân dùng NSAID, nhưng hầu hết bệnh nhân bị khó tiêu không có loét
- Chỉ 20% đến 30% người sử dụng NSAID mạn tính có loét, mặc dù nhiều người không có triệu chứng và không đáng kể về mặt lâm sàng
- Tỷ lệ mắc hàng năm của loét tiêu hóa trên có triệu chứng hoặc có ý nghĩa lâm sàng là 2,5% đến 4,5%
- Tỷ lệ thủng, xuất huyết hoặc tắc nghẽn là 1% đến 1,5%
- Thần kinh trung ương
- Viêm màng não vô khuẩn do thuốc đã được báo cáo với một số NSAID, bao gồm ibuprofen, naproxen, sulindac, piroxicam và diclofenac
- Cơ chế được cho là do miễn dịch; bệnh nhân mắc bệnh mô liên kết hỗn hợp và lupus ban đỏ hệ thống dường như phát triển viêm màng não liên quan đến NSAID với tần suất cao hơn
- Khám lâm sàng
- Ngộ độc NSAID chủ yếu liên quan đến các dấu hiệu thể hiện kích ứng đường tiêu hóa, rối loạn thần kinh trung ương, và hiếm khi toan chuyển hóa/nhiễm toan và suy đa cơ quan
a) Ngộ độc tiêu hóa
- Đánh giá tình trạng đau bụng, buồn nôn và nôn
- Đánh giá tình trạng nôn ra máu cấp tính, đi ngoài phân đen hoặc phân máu (xuất huyết tiêu hóa nặng xảy ra phổ biến nhất trong ngộ độc mạn tính)
b) Ngộ độc thần kinh
- Đánh giá tình trạng ý thức thay đổi, khó khăn về nhận thức
c) Biểu hiện hô hấp
- Đánh giá tình trạng thở nhanh và tăng thông khí
- Quá liều cấp tính có thể dẫn đến toan chuyển hóa và nhiễm toan máu gây thay đổi hô hấp bù trừ
d) Biểu hiện toàn thân
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ