Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Ung thư Phổi – Cách tiếp cận Quản lý Đa ngành Dựa trên bằng chứng. CHƯƠNG 1. SÀNG LỌC VÀ DỰ PHÒNG UNG THƯ PHỔI

155 phút đọc

Ung thư Phổi – Cách tiếp cận Quản lý Đa ngành Dựa trên bằng chứng (Lung Cancer: An Evidence-Based Approach to Multidisciplinary Management)
(C) 2025 Nhà xuất bản ELSEVIER – Nguyên tác bởi: Erin Alexis Gillaspie, Leora Horn, Amanda S. Cass
Dịch & Chú giải: TS.BS. LÊ NHẬT HUY, THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG 
Xuất bản trực tuyến vì mục đích phi lợi nhuận, duy nhất trên các website yhoclamsang.net và sachyhoc.com bởi THƯ VIỆN MEDIPHARM


CHƯƠNG 1. SÀNG LỌC VÀ DỰ PHÒNG UNG THƯ PHỔI

Betty Caroline Tong, MD, MS, MHS Marcelo Cerullo Norma E. Farrow, MD, MHS

 

ĐIỂM NHẤN MẠNH LÂM SÀNG

• Tỷ lệ tử vong do ung thư phổi (lung cancer mortality) đã và đang giảm dần kể từ những năm 1990, tuy nhiên đây vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư và dự kiến vẫn sẽ gây ra hơn 120.000 ca tử vong vào năm 2023 tại Hoa Kỳ.

• Các nỗ lực ở cấp độ quốc gia và địa phương nhằm hạn chế việc bắt đầu hút thuốc và khuyến khích cai thuốc lá được ước tính đã giúp tránh được 8 triệu ca tử vong sớm và kéo dài tuổi thọ trung bình thêm khoảng 19 đến 20 năm.

• Nhiều thử nghiệm đánh giá sàng lọc ung thư phổi (lung cancer screening) bằng phương pháp chụp cắt lớp vi tính liều thấp (low-dose computed tomography – LDCT) đã được hoàn thành trong 2 thập kỷ qua, với một số thử nghiệm hiện vẫn đang được tiến hành. Các thử nghiệm này khác biệt đáng kể với nhau về tỷ lệ giới tính, giới hạn độ tuổi và tổng số bao-năm (pack-years) gánh nặng hút thuốc của những người tham gia. Thử nghiệm Sàng Lọc Phổi Quốc Gia (National Lung Screening Trial – NLST) là thử nghiệm ngẫu nhiên tiến cứu đầu tiên chứng minh rằng việc sàng lọc những cá nhân có nguy cơ cao mắc ung thư phổi bằng LDCT có thể làm giảm tỷ lệ tử vong.

• Vào năm 2013, Lực lượng Đặc nhiệm Dịch vụ Dự Phòng Hoa Kỳ (US Preventative Services Task Force – USPSTF) đã đưa ra khuyến cáo “mức độ B” đối với việc sàng lọc ung thư phổi hàng năm bằng LDCT ở người lớn từ 55 đến 80 tuổi có tiền sử hút thuốc 30 bao-năm, những người hiện đang hút thuốc hoặc đã bỏ thuốc trong vòng 15 năm qua. Bản cập nhật vào tháng 7 năm 2020 đã hạ ngưỡng tuổi bắt đầu sàng lọc xuống 50 tuổi và tiền sử hút thuốc tối thiểu được giảm xuống còn 20 bao-năm.

• Các hướng dẫn của Mạng lưới Ung thư Quốc gia Toàn diện (National Comprehensive Cancer Network – NCCN) và công cụ Lung-RADS giúp phân tầng nguy cơ và tiêu chuẩn hóa các phát hiện trên LDCT, đồng thời phác thảo các bước tiếp theo để đánh giá bổ sung và theo dõi.


DỊCH TỄ HỌC, YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ DỰ PHÒNG UNG THƯ PHỔI

Ung thư phổi (lung cancer) là nguyên nhân phổ biến nhất gây tử vong do ung thư ở cả nam và nữ trên toàn thế giới, chiếm 11,4% tổng số ca ung thư mới mắc vào năm 2020 và 18% tổng số ca tử vong do ung thư. Tại Hoa Kỳ, ung thư phổi có mối liên hệ chặt chẽ với việc sử dụng thuốc lá và cụ thể là hút thuốc lá điếu. Kể từ khi công bố báo cáo đầu tiên của Tổng y sĩ (Surgeon General) về hút thuốc và sức khỏe vào năm 1964, việc sản xuất, bán và tiêu thụ các sản phẩm thuốc lá đã chịu sự quản lý ở cấp tiểu bang và liên bang.

Bệnh tật và tử vong trong quần thể dân số nói chung có thể quy cho việc sử dụng thuốc lá, và cụ thể là tỷ lệ tử vong do ung thư phổi gây ra bởi việc sử dụng thuốc lá, là một lĩnh vực nghiên cứu sâu rộng. Về mặt địa lý, tỷ lệ tử vong do ung thư phổi theo sát các khu vực có tỷ lệ lưu hành hút thuốc cao. Hơn nữa, sự khác biệt được quan sát thấy giữa nam và nữ cũng theo sát với tỷ lệ hút thuốc, vì các khu vực có tỷ lệ nam giới hút thuốc cao nhất (Đông Á, Đông Nam Á và Đông Âu) có tỷ lệ tử vong do ung thư phổi ở nam giới cao hơn rõ rệt so với các khu vực có tỷ lệ nữ giới hút thuốc cao nhất (các quốc gia châu Âu, tiếp theo là Châu Đại Dương và Bắc/Nam Mỹ). Đặc biệt tại Hoa Kỳ, mức độ liên quan giữa việc hút thuốc và tỷ lệ tử vong do ung thư phổi đã gia tăng theo thời gian khi việc hút thuốc trở nên ít phổ biến hơn ở phụ nữ, với nguy cơ tương đối (relative risk) ước tính là 2,7 trong những năm 1960 lên tới 25,7 trong những năm 2000. Các nỗ lực ở cấp quốc gia và địa phương nhằm hạn chế việc bắt đầu hút thuốc được ước tính có liên quan đến việc tránh được 8 triệu ca tử vong sớm và thời gian sống trung bình kéo dài thêm từ 19 đến 20 năm.

Nhiều phân tích liên quan đã điều tra tác động kết hợp của hút thuốc lá cùng với các yếu tố nguy cơ về hành vi và môi trường khác. Theo hướng này, việc tách bạch cẩn thận tác động của khói thuốc lá trực tiếp ra khỏi tác động ngẫu nhiên của khói thuốc môi trường là rất khó khăn, một phần là do tính chất gây nhiễu (confounding) của các phơi nhiễm; hút thuốc phổ biến hơn ở các thành viên thuộc một số nghề nghiệp nhất định, trong một số tầng lớp kinh tế xã hội nhất định và ở một số khu vực địa lý nhất định. Do đó, sự biến thiên không ngẫu nhiên này sẽ cung cấp thông tin cho các nỗ lực y tế công cộng nhằm xác định các khoảng thời gian sàng lọc phù hợp cho các quần thể khác nhau.

Khói Thuốc Lá Thụ Động

Việc thiết lập mối liên hệ nhân quả giữa khói thuốc lá và ung thư phổi sau đó đã tạo ra sự quan tâm đối với các hiệu ứng dây chuyền của chính sách chống hút thuốc đối với rủi ro ung thư dài hạn của những người chưa từng hút thuốc (never-smokers), những người bị ảnh hưởng bởi việc phơi nhiễm khói thuốc thụ động (passive smoke exposure). Trong một phân tích gộp của hai nghiên cứu bệnh-chứng (case-control studies) lớn tại châu Âu trên bệnh nhân ung thư phổi, tỷ lệ chênh (odds) của tỷ lệ mắc mới ung thư phổi cao hơn từ 18% đến 23% ở những trường hợp có vợ/chồng đã từng hút thuốc hoặc hút thuốc lâu năm tương ứng. Điều này tương tự với phơi nhiễm tại nơi làm việc, với tỷ lệ chênh cao hơn từ 16% đến 27%. Một mối quan hệ liều-đáp ứng (dose-response relationship) đối với việc gia tăng thời gian phơi nhiễm khói thuốc thụ động cũng đã được chứng minh.

Ô Nhiễm Không Khí, Phơi Nhiễm Môi Trường Và Nghề Nghiệp

Tương tự như khói thuốc lá, bụi mịn và ô nhiễm không khí xung quanh cũng góp phần gây ra nguy cơ ung thư phổi. Đóng góp tương đối của các phơi nhiễm nghề nghiệp cũng đã được phân biệt với “phơi nhiễm khói thuốc” kinh điển. Trong phân tích dữ liệu từ Thử nghiệm Sàng Lọc Phổi Quốc Gia (National Lung Screening Trial – NLST), phơi nhiễm với khói hàn và bụi kim loại từ khí đúc có liên quan đến nguy cơ gia tăng ung thư phổi ở những người đã từng hút thuốc (ever-smokers). Cụ thể, số năm làm việc tăng lên trong ngành hàn và đúc có liên quan đến sự gia tăng nguy cơ ung thư phổi ở những người hút thuốc nhiều, và đặc biệt là phân loại tế bào vảy (squamous cell subtype). Một tác động hiệp đồng ở những người làm cả hai nghề này, so với những người chưa từng làm nghề gia công kim loại, cũng đã được tìm thấy.

Các chất ô nhiễm liên quan đến giao thông, đặc biệt là oxit nitơ, đã được kiểm tra trong nhiều nghiên cứu quan sát, với một ước tính gộp (meta-estimate) cho sự thay đổi về bệnh ung thư phổi liên quan đến sự gia tăng 10 µg/m3 phơi nhiễm với NO2 là 4% (khoảng tin cậy [confidence interval – CI] 95%, 1% – 8%). Điều này cuối cùng đã dẫn đến việc Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (International Agency for Research on Cancer) phân loại ô nhiễm không khí ngoài trời bao gồm bụi mịn và khí thải động cơ diesel là chất gây ung thư nhóm 1. Gần đây, dữ liệu từ Thử nghiệm Sức khỏe và Sương mù Cơ Đốc Phục Lâm-2 (Adventist Health and Smog Study-2 – AHSMOG-2), thu nhận gần 100.000 người không hút thuốc từ tất cả 50 tiểu bang của Hoa Kỳ và năm tỉnh của Canada, cho thấy tỷ lệ mắc mới ung thư phổi (lung cancer incidence) đã tăng 43% (Tỷ số nguy cơ hiệu chỉnh [adjusted hazard ratio – aHR] với CI 95%, 1,11 – 1,84) cho mỗi mức tăng 10 µg/m3 bụi mịn. Ngoài ra, trong nhóm bệnh nhân dành hơn một giờ mỗi ngày ở ngoài trời, điều này tương đương với mức tăng 68% về tỷ lệ mắc mới ung thư phổi (aHR CI 95%, 1,28 – 2,22), và đối với những người đã sống từ 5 năm trở lên tại địa chỉ khi họ đăng ký tham gia nghiên cứu, điều này liên quan đến mức tăng 54% về tỷ lệ mắc ung thư phổi (aHR CI 95%, 1,17 – 2,04). Các ước tính này làm sáng tỏ sự biến thiên của mối liên quan này ở những người không hút thuốc so với những người hút thuốc. Trong một đoàn hệ (cohort) tại Trung Quốc bao gồm những người hút thuốc, đóng góp của bụi mịn vào tỷ lệ mắc mới ung thư phổi ước tính là 5,5% đối với mức tăng 10 mg/m3 trung bình trong 2 năm (CI 95%, 3,8% – 7,2%) đối với nam giới và tăng 14,9% (CI 95%, 12,0% – 17,8%) đối với nữ giới.

Radon

Radon, một loại khí hiếm phóng xạ trơ, đã được liên kết với sự gia tăng tỷ lệ mắc mới ung thư phổi ở thợ mỏ và động vật thí nghiệm. Tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm cho thấy nguy cơ ung thư phổi tăng lên từ phơi nhiễm tại khu dân cư mới chỉ xuất hiện trong 20 năm qua. Bởi vì radon bị mắc kẹt trong các không gian kín, sự quan tâm của y tế công cộng về mức độ của mối liên quan này đã sớm hình thành. Vì nồng độ radon tại các khu dân cư thấp hơn nhiều so với trong các khu mỏ, nên sức mạnh của mối liên quan, và sự phụ thuộc của nó vào các yếu tố nguy cơ đồng thời khác, cũng đã được nghiên cứu rộng rãi. Một phân tích gộp (meta-analysis) của tám nghiên cứu dịch tễ học đã phát hiện ra rằng đối với những người không hút thuốc, nguy cơ phát triển ung thư phổi đối với mức phơi nhiễm 150 Bq/m3 tăng 18% (CI 95%, 0,8 – 1,6) và có một mối quan hệ liều-đáp ứng có ý nghĩa thống kê. Khi được kiểm tra cùng với tình trạng hút thuốc trong một phân tích gộp các nghiên cứu dịch tễ học tại Châu Âu, nguy cơ tuyệt đối (absolute risks) mắc ung thư phổi ở độ tuổi 75 với nồng độ radon thông thường ở mức 100 và 400 Bq/m3 được ước tính tương ứng vào khoảng 0,5% và 0,7% đối với những người cả đời không hút thuốc; tuy nhiên, đối với những người hút thuốc, nguy cơ này lớn hơn gấp hơn một bậc độ lớn (khoảng trên 10 lần), tương ứng là 12% và 16%.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ