Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Viêm Khớp Phản Ứng

9 phút đọc

ĐỊNH NGHĨA

ICD-10: M02.

NGUYÊN NHÂN

Vai trò của kháng nguyên HLA B27

Yếu tố gen đóng vai trò quan trong trong cơ chế bệnh sinh của bệnh viêm khớp phản ứng. Có đến 30-60% bệnh nhân viêm khớp phản ứng có kháng nguyên HLA-B27. Người ta cũng nhận thấy bệnh viêm khớp phản ứng thường nặng hơn và có xu hướng chuyển thành mạn tính cao hơn ở những người có HLA-B27 (+).

Vai trò của nhiễm trùng

Một vài loại vi khuẩn được cho là nguyên nhân gây ra viêm khớp phản ứng, nhất là các vi khuẩn gây nhiễm trùng đường tiết – niệu sinh dục hoặc đường tiêu hoá, có khoảng 20% các trường hợp viêm khớp phản ứng không tìm nguyên nhân.

  • Nhiễm trùng đường tiêu hóa: thường do Salmonella, Shigella, Yersinia, Campylobacter, Borrelia…
  • Nhiễm trùng đường tiết niệu – sinh dục: thường do Chlamydia Trachomatis
  • Một vài trường hợp viêm khớp phản ứng thấy ở bệnh nhân bị lao hệ thống.
  • Virus cũng được cho là nguyên nhân của viêm khớp phản ứng như: Rubella, virus viêm gan, Parvovirus, HIV…

Các yếu tố khác

Một vài trường hợp viêm khớp phản ứng có thể gặp theo sau các tình trạng viêm đường ruột mãn tính như bệnh Crohn, viêm loét đại tràng…

CHẨN ĐOÁN

Lâm sàng

Biểu hiện lâm sàng thường gặp là bệnh nhân có tiền sử viêm nhiễm đường tiết niệu – sinh dục hoặc đường tiêu hóa trước khi có biểu hiện viêm khớp phản ứng (khoảng 2-4 tuần). Tuy nhiên, có khoảng 10% các trường hợp viêm nhiễm thường nhẹ và làm cho bệnh nhân không được chú ý đến, nhất là ở nữ. Các biểu hiện lâm sàng có thể gặp như sau:

  • Biểu hiện toàn thân: mệt mỏi, sốt nhẹ, khó chịu, chán ăn, gầy sút
  • Biểu hiện ở hệ cơ xương khớp:
  • Viêm một khớp hoặc vài khớp, không đối xứng, thường gặp các khớp ở chi dưới như: khớp gối, khớp cổ chân và ngón chân, có thể có biểu hiện ngón chân hình khúc dồi. Ngoài ra, có thể gặp ở các khớp ở cột sống, khớp cùng chậu, khớp vai, khớp khuỷu, cổ tay, ngón tay.
  • Thường kèm theo viêm điểm bám tận của gân cơ, viêm bao gân, nhất là gân gót và mắt cá chân
  • Viêm khớp tái phát hoặc mạn tính: biểu hiện viêm khớp ngoại biên tái phát nhiều đợt hoặc viêm viêm khớp cùng chậu và khớp đốt sống mạn tính tiến triển thành bệnh viêm cột sống dính khớp.
  • Tổn thương da và niêm mạc:
  • Có thể gặp các tổn thương da tăng sừng hóa ở lòng bàn tay, bàn chân, da bìu, da đầu giống viêm da trong vảy nến
  • Các tổn thương viêm niêm mạc miệng, lưỡi, viêm bao quy đầu
  • Viêm bàng quang, viêm niệu đạo, viêm tuyến tiền liệt, viêm cổ tử cung.
  • Tổn thương ở mắt:
  • Bệnh nhân có thể thấy mắt đỏ, sợ ánh sáng và đau nhức vùng hốc mắt. Tổn thương mắt có thể là triệu chứng duy nhất hoặc là triệu chứng đầu tiên của viêm khớp phản ứng
  • Viêm kết mạc, viêm màng bồ đào trước, viêm giác mạc hoặc thậm chí loét giác mạc có thể xảy ra.
  • Các cơ quan khác:

Viêm màng tim có thể hay gặp ở thấp khớp cấp (thấp tim) nhưng rất hiếm gặp ở bệnh nhân viêm khớp phản ứng. Có thể gặp biểu hiện protein niệu, tiểu máu vi thể và tiểu mủ vô khuẩn ở bệnh nhân viêm khớp phản ứng.

Cận lâm sàng

  • Tốc độ lắng máu, CRP, yếu tố bổ thể huyết thanh C3, C4 tăng cao vào giai đoạn đầu của bệnh
  • Bạch cầu tăng nhẹ, có thể có thiếu máu nhẹ
  • Yếu tố dạng thấp RF (-)
  • Phân tích nước tiểu có thể xác định tiểu mủ vô khuẩn do viêm niệu đạo, tiểu máu vi thể, protein niệu
  • Xét nghiệm dịch khớp: thường biểu hiện viêm cấp không đặc hiệu. Nhuộm Gram và cấy dịch khớp (-). Xét nghiệm này giúp chân đoán phân biệt với viêm khớp nhiễm trùng.
  • Có thể tìm tác nhân gây bệnh từ phân, dịch tiết ở họng và đường tiết niệu
  • Test huyết thanh chẩn đoán có thể dương tính với Samonella, Campylobacter, Chlamydia,…
  • X-quang khớp: thường không thấy tổn thương khớp bị viêm trong giai đoạn cấp tính. Một số trường hợp tái phát hoặc mạn tính có thể thấy các tổn thương calci hóa ở các điểm bám gân, vôi hóa dây chằng, viêm khớp cùng chậu. X-quang có thể giúp chẩn đoán phân biệt với bệnh viêm cột sống dính khớp (được xem là biểu hiện mạn tính của viêm khớp phản ứng)
  • Xạ hình xương: có thể xác định được tăng bắt xạ ở các vị trí khớp và điểm bán gân bị viêm
  • Xác định kháng nguyên HLA-B27 có thể (+) 30-60% các trường hợp.

Chẩn đoán xác định

Hiện nay chưa có tiêu chuẩn chẩn xác định bệnh viêm khớp phản ứng nào được thống nhất (ngoại trừ hội chứng Reiter). Việc chẩn đoán bệnh viêm khớp phản ứng chủ yếu dựa vào các biểu hiện lâm sàng, xét nghiệm cận lâm sàng và tiền sử nhiễm khuẩn (chủ yếu là đường tiết niệu – sinh dục, đường tiêu hóa). Điền hình bệnh nhân có tam chứng viêm khớp, viêm kết mạc mắt và viêm niệu đạo/sinh đục; đặc biệt nếu các triệu chứng xuất hiện 2-4 tuần sau nhiễm trùng ờ đường tiêu hóa hoặc tiết niệu sinh dục.

Chẩn đoán phân biệt

– Viêm khớp gút cấp

– Viêm khớp nhiễm trùng

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Trang Chủ