Viêm Tuyến Giáp – Chẩn đoán và Điều trị (2026) | Thyroiditis – Diagnosis and Therapeutic Management
Biên tập: Mahmoud Sakr – (C) 2026 Nhà xuất bản: Springer – Năm xuất bản: 2026.
Ths.Bs. Lê Đình Sáng: Dịch và chuyển thể tiếng Việt. Ấn bản tiếng Việt của cuốn sách này được xuất bản trực tuyến vì mục đích phi lợi nhuận, duy nhất trên nền tảng yhoclamsang.net và sachyhoc.com của Thư viện Y học Medipharm.
CHƯƠNG 14. VIÊM TUYẾN GIÁP HASHIMOTO: MỐI LIÊN QUAN VỚI UNG THƯ BIỂU MÔ TUYẾN GIÁP THỂ NHÚ
Hashimoto’s Thyroiditis: Association with Papillary Thyroid Carcinoma
14.1 Tổng Quan
Viêm tuyến giáp Hashimoto (Hashimoto’s thyroiditis – hay viêm tuyến giáp lympho bào mạn tính) là bệnh lý tuyến giáp tự miễn (autoimmune thyroid disease) phổ biến nhất, trong đó hệ miễn dịch tấn công và phá hủy tuyến giáp. Hiện vẫn chưa có sự đồng thuận về mối liên quan giữa viêm tuyến giáp Hashimoto và ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú (papillary thyroid carcinoma – PTC), dạng ung thư tuyến giáp phổ biến nhất, chiếm khoảng 80-90% tổng số ca ung thư tuyến giáp được chẩn đoán. Viêm tuyến giáp Hashimoto là một thực thể lâm sàng – giải phẫu bệnh được xác định rõ ràng, và tỷ lệ mắc mới (incidence) của bệnh đã tăng lên trong 50 năm qua. Bệnh đặc trưng bởi tình trạng suy giáp (hypothyroidism), sự hiện diện của kháng thể kháng thyroglobulin và kháng peroxidase trong huyết thanh, cùng với sự thâm nhiễm lympho bào lan tỏa kèm theo sự suy giảm các tế bào nang tuyến. Bên cạnh thể viêm tuyến giáp Hashimoto kinh điển, các nghiên cứu gần đây đã đề xuất rằng viêm tuyến giáp liên quan đến IgG4 (IgG4-related thyroiditis) có thể được coi là một biến thể của căn bệnh này.
Dailey và cộng sự là những người đầu tiên đề xuất mối liên quan giữa viêm tuyến giáp Hashimoto và PTC vào năm 1955, liên kết tình trạng viêm mạn tính với những thay đổi tân sinh (neoplastic changes). Tuy nhiên, việc liệu viêm tuyến giáp Hashimoto có làm bệnh nhân dễ mắc PTC hay không vẫn là chủ đề của một cuộc tranh luận kéo dài và chưa có hồi kết. Một số nghiên cứu đã chỉ ra nguy cơ mắc PTC cao hơn ở những bệnh nhân có viêm tuyến giáp Hashimoto, trong khi những nghiên cứu khác lại không chứng minh được sự gia tăng nguy cơ này. Năm 2013, Lee và cộng sự đã công bố một phân tích gộp (meta-analysis) bao gồm 38 nghiên cứu đủ tiêu chuẩn và phát hiện ra rằng PTC có liên quan đáng kể với tình trạng viêm tuyến giáp Hashimoto đã được xác nhận qua giải phẫu bệnh. Họ báo cáo rằng viêm tuyến giáp Hashimoto có tỷ lệ xuất hiện dao động rất lớn, từ 5% đến 85% trong các mẫu bệnh phẩm tuyến giáp bị cắt bỏ do PTC, đồng thời cho biết thêm rằng các đặc điểm lâm sàng – giải phẫu bệnh của PTC khi có kèm theo viêm tuyến giáp Hashimoto vẫn chưa được xác định một cách chắc chắn.
Mặt khác, Jankovic và cộng sự (2013) báo cáo rằng không có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa viêm tuyến giáp Hashimoto và PTC dựa trên 8 nghiên cứu chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (fine-needle aspiration – FNA) và 8 nghiên cứu trên bệnh phẩm cắt bỏ tuyến giáp. Do có những kết quả không nhất quán về mối liên quan giữa viêm tuyến giáp Hashimoto và nguy cơ mắc PTC, Lai và cộng sự (2017) đã tiến hành một phân tích gộp toàn diện để điều tra các mối liên hệ tiềm ẩn giữa viêm tuyến giáp Hashimoto và PTC; họ đã xác nhận rằng viêm tuyến giáp Hashimoto thực sự làm bệnh nhân dễ tiến triển thành PTC.
Chương này nhằm mục đích làm rõ mối quan hệ giữa viêm tuyến giáp Hashimoto (đã được chứng minh qua mô học) và PTC, đồng thời xác định các đặc điểm lâm sàng – giải phẫu bệnh của PTC khi có viêm tuyến giáp Hashimoto cùng tồn tại.
14.2 Các Nghiên Cứu Phân Tích Gộp
Có tổng cộng 38 bài báo đáp ứng các tiêu chí thu nhận cho phân tích gộp do Lee và cộng sự tiến hành (2013). Số lượng bệnh nhân trong mỗi nghiên cứu dao động từ 6 đến 1788, với tổng số 10.648 bệnh nhân PTC. Trong số các bệnh nhân PTC, viêm tuyến giáp Hashimoto hiện diện ở 2471 trường hợp (23,2%).
Phân tích gộp do Lai và cộng sự (2017) thực hiện, bao gồm 27 nghiên cứu, cho thấy tỷ lệ mắc PTC ở bệnh nhân viêm tuyến giáp Hashimoto từ 18 nghiên cứu lưu trữ bệnh phẩm cắt tuyến giáp (47.235 bệnh nhân) dao động từ 9,46% đến 96,67%, với tỷ lệ trung bình là 40,11%. Tỷ lệ mắc PTC ở bệnh nhân viêm tuyến giáp Hashimoto từ 7 nghiên cứu FNA (25.777 bệnh nhân) dao động từ 0,12% đến 20,87%, với tỷ lệ trung bình là 6,46%, trong khi tỷ lệ mắc PTC ở bệnh nhân viêm tuyến giáp Hashimoto từ 3 nghiên cứu FNA chọn lọc (11.793 bệnh nhân) dao động từ 0,67% đến 1,77%, với tỷ lệ trung bình là 1,12%.
14.2.1 Viêm Tuyến Giáp Hashimoto Trong PTC So Với Các Tổn Thương Lành Tính
Mười một nghiên cứu đã so sánh sự xuất hiện của viêm tuyến giáp Hashimoto trong các ca PTC và trong các bệnh lý tuyến giáp lành tính (benign thyroid diseases) như tăng sản dạng nốt (nodular hyperplasia) và u tuyến nang (follicular adenoma). Viêm tuyến giáp Hashimoto được tìm thấy ở 938 trong số 2317 bệnh nhân PTC (40,5%), trong khi tỷ lệ này là 634 trên 3019 bệnh lý tuyến giáp lành tính (21%). Do đó, sự đồng tồn tại của viêm tuyến giáp Hashimoto có liên quan đáng kể với PTC hơn là với các tổn thương lành tính (p = 0,001).
14.2.2 Viêm Tuyến Giáp Hashimoto Trong PTC So Với Các Bệnh Lý Ung Thư Biểu Mô Khác
Mười sáu nghiên cứu đã khảo sát tần suất của viêm tuyến giáp Hashimoto trong PTC và trong các bệnh lý ung thư biểu mô khác như ung thư biểu mô tuyến giáp dạng nang (follicular thyroid carcinoma – FTC) và ung thư biểu mô tuyến giáp thể tủy (medullary thyroid carcinoma – MTC). Viêm tuyến giáp Hashimoto hiện diện ở 797 trong số 4664 bệnh nhân PTC (17,1%) so với 57 trong số 725 bệnh nhân ung thư biểu mô khác (7,9%). Do đó, sự đồng tồn tại của viêm tuyến giáp Hashimoto liên quan đáng kể đến PTC hơn so với các loại ung thư tuyến giáp khác (p = 0,001).
14.2.3 Đặc Điểm Lâm Sàng – Giải Phẫu Bệnh Của PTC Có Kèm Theo Viêm Tuyến Giáp Hashimoto
14.2.3.1 Giới tính
Tỷ lệ xuất hiện viêm tuyến giáp Hashimoto trong PTC theo giới tính được so sánh trong 23 nghiên cứu. Viêm tuyến giáp Hashimoto trong PTC được quan sát thấy ở 1677 trên 7346 (23%) bệnh nhân nữ so với 180 trên 573 (11%) bệnh nhân nam. Dựa trên phát hiện này, có một mối liên quan mang ý nghĩa thống kê rất cao giữa viêm tuyến giáp Hashimoto trong PTC ở nữ giới nhưng không thấy ở nam giới (p = 0,001).
14.2.3.2 Độ tuổi
Mười bốn nghiên cứu đã đề cập đến tần suất của viêm tuyến giáp Hashimoto trong PTC theo độ tuổi trung bình của bệnh nhân. Độ tuổi trung bình của bệnh nhân PTC có kèm theo viêm tuyến giáp Hashimoto dao động từ 39,5 đến 69,0 tuổi, trong khi độ tuổi trung bình của bệnh nhân PTC không có viêm tuyến giáp Hashimoto dao động từ 38,2 đến 56,3 tuổi. Không có mối liên quan nào giữa độ tuổi trung bình của bệnh nhân PTC và tỷ lệ xuất hiện của viêm tuyến giáp Hashimoto trong PTC.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ