Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Xét nghiệm đánh giá tình trạng viêm

16 phút đọc

1. Máu lắng

Máu lắng (VSS) còn được gọi là độ lắng hồng cầu (tốc độ mà các hồng cầu của máu ngưng kết với nhau). Đây là một xét nghiệm không chuyên biệt cho riêng bệnh nào, nhưng lại là một xét nghiệm được áp dụng để tầm soát trong rất nhiều bệnh. Xét nghiệm này thực hiện nhằm đo chiều cao cột hồng cầu lắng xuống (đơn vị là mm) của một thể tích máu đã được chống đông, đựng trong một ống nghiệm đặc biệt có chia vạch trong khoảng thời gian là 1h.

Ý nghĩa của xét nghiệm:Đo tốc độ lắng máu là một xét nghiệm thực hiện để theo dõi một tình trạng viêm nhiễm hay theo dõi một bệnh lý ác tính nào đó, bệnh sốt thấp cấp, hoặc cơn nhồi máu cơ tim cấp. Mặc dù đây là một xét nghiệm mang tính thường quy, tầm soát, nhưng lại rất cần thiết trong việc phát hiện và theo dõi bệnh lao, theo dõi quá trình hoại tử mô trong cơ thể, những rối loạn bệnh lí thuộc về thấp học (bệnh lí của khớp, gân, cơ vân, dây chằng ,.. và những cấu trúc liên quan), thậm chí còn có thể giúp phát hiện ra những bệnh lí mà triệu chứng lâm sàng khá mơ hồ, không rõ ràng.

Kết quả bình thường (Theo phương pháp Westergren)

Người lớn :

  • Nam dưới 50 tuổi : nhỏ hơn 15mm/giờ
  • Nam trên 50 tuổi : nhỏ hơn 20mm/giờ
  • Nữ dưới 50 tuổi : nhỏ hơn 20mm/giờ
  • Nữ trên 50 tuổi : nhỏ hơn 30mm/giờ

Trẻ em:

  • Trẻ nhũ nhi : 0 – 2 mm/giờ
  • Trẻ sơ sinh đến trẻ dậy thì : trung bình 3 – 13 mm/giờ

Kết quả bất thường.

Tốc độ lắng máu thường tăng trong những trường hợp sau đây:

  • Bệnh thận
  • Mang thai
  • Bệnh thấp cấp
  • Viêm khớp dạng thấp
  • Thiếu máu nặng
  • Bệnh giang mai
  • Bệnh Lupus ban đỏ hệ thống
  • Bệnh của tuyến giáp
  • Bệnh lao

Tốc độ lắng máu tăng rõ ràng trong những bệnh sau đây:

  • Viêm động mạch do tế bào khổng lồ – động mạch thái dương, động mạch não
  • Đa u tuỷ
  • Bệnh macroglobulin huyết (trong máu xuất hiện globulin miễn dịch bất thường)
  • Bệnh tăng fibrinogen máu
  • Viêm mạch máu hoại tử
  • Bệnh đau cơ dạng thấp (các cơ bị đau và cứng lại, thường gặp ở người lớn tuổi)

Tốc độ lắng máu giảm so với bình thường gặp trong những bệnh sau :

  • Suy tim xung huyết
  • Máu tăng độ nhớt
  • Giảm fibrinogen trong máu
  • Giảm protein huyết tương (do bệnh lí của gan hay thận)
  • Bệnh đa hồng cầu
  • Bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm

Ngoài ra còn có một số yếu tố bệnh lí có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm như:

  • Viêm mạch máu dị ứng
  • U nhầy nhĩ trái
  • U nhầy nhĩ phải
  • Viêm gan tự miễn
  • Viêm nội mạc tử cung
  • Bệnh viêm cân mạch có tăng bạch cầu ưa toan
  • Bệnh viêm quầng da do nhiễm Streptococcus pyogen (vùng nhiễm viêm và phồng lên, tạo thành những mảng nhỏ đường kính vài cm)
  • Viêm khớp dạng thấp trẻ em
  • Bệnh “cựu chiến binh” : một bệnh nhiễm trùng phổi, gây sốt, đau ngực, khó thở..
  • Bệnh viêm xương tuỷ
  • Viêm vùng chậu
  • Viêm ngoại tâm mạc
  • Xơ hoá sau phúc mạc
  • Tổn thương da do nhiễm nấm blastomyces (những vết loét như hạt cơm ở mặt, cổ, bàn tay, cánh tay, bàn chân…)
  • Viêm tuyến giáp bán cấp
  • Bệnh mô liên kết như xơ cứng bì …

2. CRP

CRP (C – Reactive Protein) là một protein viêm giai đoạn cấp không đăc hiệu, được sản xuất bởi tế bào gan, khi cơ thể phản ứng với các tác nhân gây viêm, với nhiễm trùng và tổn thương mô. Sự tăng CRP chịu ảnh hưởng nhiều yếu tố, và không phải luôn luôn tăng trong NTH có giảm bạch cầu hạt.

CRP vẫn duy trì sự tăng trong vòng 24-48 giờ sau khởi phát nhiễm trùng (2). Thời gian bán hủy sinh học là 19 giờ, giảm 50% nồng độ mỗi ngày sau khi kích thích viêm cấp tính đã được giải quyết. (1)

  • Lượng CRP tăng cao trong máu gợi ý cho thấy có viêm nhiễm cấp.
  • Lượng CRP trong máu giảm xuống có nghĩa là tình trạng bệnh nhân tốt hơn và tình trạng viêm nhiễm giảm.

CRP tăng sau nhồi máu cơ tim, nhiễm trùng huyết và sau phẫu thuật. CRP tăng trong máu trước khi xảy ra đau, sốt, và các chỉ điểm lâm sàng khác.

Khi phối hợp với các dữ kiện lâm sàng và xét nghiệm khác, giá trị CRP đo hàng loạt là một phương tiện hữu ích trong việc theo dõi và có thể góp phần trong việc giảm thiểu những trường hợp dùng kháng sinh không cần thiết.

Ngoài CRP, các cytokine và PCT cũng có thể hữu ích trong việc chẩn đoán và theo dõi NTSS, nhưng cần phải có thêm nhiều thử nghiệm đa trung tâm trước khi được khuyến cáo áp dụng đại trà.

Mức độ CRP có thể nhảy vọt lên gấp hàng ngàn lần để phản ứng với hiện tượng viêm và sẽ rất có giá trị trong việc theo dõi diễn biến của bệnh.

Xét nghiệm CRP có ích trong đánh giá các bệnh lý sau:

  • Bệnh viêm loét đại tràng
  • Một số dạng viêm khớp
  • Các bệnh tự miễn
  • Viêm nhiễm vùng tiểu khung (Pelvic Inflammatory Disease)
  • Viêm ruột thừa?
  • Bệnh mạch vành tim (CHD)
  • Bệnh tim mạch

Tuy xét nghiệm CRP không đủ tính đặc hiệu để chẩn đoán một bệnh lý nào đó, nó vẫn có thể giúp ích với vai trò là một chỉ điểm tổng quát cho viêm nhiễm, và như thế sẽ báo động cho thầy thuốc biết khi nào thì cần phải làm thêm xét nghiệm khác để chẩn đoán và điều trị.

Khi nào cần xét nghiệm?

  • Do CRP tăng trong những trường hợp viêm nặng, xét nghiệm sẽ được chỉ định khi có nguy cơ viêm cấp (như nhiễm trùng sau phẫu thuật) hoặc khi có nghi ngờ dựa trên các triệu chứng của bệnh nhân.
  • Xét nghiệm cũng được chỉ định để giúp đánh giá các bệnh lý như viêm khớp dạng thấp, lupus, và thường được lập lại nhiều lần để đánh giá hiệu quả điều trị.
  • Xét nghiệm đặc biệt hiệu quả cho việc theo dõi những tình trạng viêm nhiễm vì lượng CRP sẽ giảm khi viêm nhiễm thoái lui.
  • CRP còn được sử dụng để theo dõi lành vết thương, các vết mổ sau phẫu thuật, ghép tạng, phỏng để sớm phát hiện khả năng xảy ra nhiễm trùng.

3. Pro Calcitonin

PROCALCITONIN – Một marker đặc hiệu cho nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn huyết

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ