TRANSAMINASE (ALAT HAY ALT VÀ ASAT HAY AST)
(Transaminases sériques: ALAT[GPT], ASAT[GOT] / Alanine Aminotransferase [alt], Serum Glutamic Pyruvic Transaminase [SGPT]; Aspartate Aminotransferase [AST], Serum Glutamic Oxaloacetic transaminase [SGOT])
NHẮC LẠI SINH LÝ
Transaminases là các enzym trong tế bào có vai trò cơ bản là chuyển nhóm NH2 của một axit amin (alanin hay axit aspartic) tới một axit cetonic (axit alpha – cetoglutaric). Vì vậy người ta tách biệt:
- Các AST hay ASAT:Aspartate Aminotransferase (đồng nghĩa GOT: Glutamat Oxaloacetic Transaminase). Các enzym này xúc tác phản ứng: L – Aspartat + α Oxoglutamat ↔Oxaloacetat + L – Glutamat. Các AST (hay ASAT) có trong bào tương (cytoplasme) cũng trong như ty lạp thể và được thấy chủ yếu trong tế bào của các cơ quan sau (theo trình tự giảm dần):
– Tim.
– Gan.
– Cơ xương.
– Tụy tạng.
– Hồng cầu.
– Tiểu cầu.
AST được giải phóng vào vòng tuần hoàn sau khi xảy ra tình trạng tổn thương hay chết của các tế bào chứa enzym này. Các AST có thời gian bán hủy trong máu là 17h.
- Các ALT hay ALAT: Alanine Aminotransferase (đồng nghĩa GOT: Glutamat Pyrusvat Transaminase). Enzym này xúc tác phản ứng: L – alanin + α Oxogluta↔Pyrusvat + α – Glutamat. Các ALT có thời gian bán hủy trong máu là 47h. Chúng có mặt duy nhất ttrong bào tương của các tế bào và được thấy chủ yếu trong các cơ quan sau (theo trình tự giảm dần):
– Gan.
– Thận.
– Tim.
– Cơ xương.
Trong nhồi máu cơ tim, các transaminase (chủ yếu là AST) tăng lên sớm ngay từ giừo thứ 4 và trở lại bình thường từ ngày thứ 3. Các ALT chỉ tăng nhẹ và tỉ lệ AST/ALT > 1 . Tóm lại giá trị của transaminase tăng song hành với giá trị của CPK và phản ánh mức độ rộng của hoại tử cơ tim.
Trong bệnh lý gan, giá trị của AST thấp hơn của giá trị ALT với tỉ lệ AST/ALT < 1 ngoại trừ trong xơ gan do rượu (khi đó tỉ lệ này kinh điển thường > 1). Nhìn chung trong các bệnh lý gan (Vd: viêm gan, xơ gan) không thấy có mối tương quan giữa giá trị của transaminase và mức độ nặng của bệnh nguyên nhân. VD: trong xơ gan, tăng các transaminase tương đối ít (gấp 2 – 3 lần so với bình thường), mặc dù có các dấu hiệu mất bù rõ rệt như cổ chướng, vàng da (tăng bilirubin, giảm nồng độ antithtombin III, fibrinogen, PPT và cholesterol). Một ví dụ khác là trong viêm gan cấp tính, tình trạng giảm nhanh hoạt đọ của các transaminase trong thời gian bị bệnh đoi khi phản ánh tình trạng suy của các tế bào gan rất nặng (do tế bào mất khả năng tổng hợp enzym), hơn là một bằng chứng chứng tỏ có cải thiện lâm sàng.
Cần nhắc lại xác định hoạt độ CPK và các gamma GT thường cho phép định hướng chẩn đoán phân biệt nguồn gốc tăng transaminase máu:
– Tăng CPK: Nguồn gốc cơ tim hay cơ vân.
– Tăng gamma GT: Nguồn gốc gan, mật hay tụy.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ