Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Xét nghiệm đông máu: Thrombin time (TT)

9 phút đọc

Sử dụng TT để theo dõi điều trị UFH: TT là một xét nghiệm dựa trên tạo thành cục máu đông (clot-based assay), vì vậy trong quá khứ, một số LABO sử dụng TT để theo dõi điều trị UFH. Điều này được thực hiện bằng cách cho một lượng thrombin đã biết vào PPP và đo thời gian tạo thành cục máu đông. Dưới những điều kiện nhất định, heparin tạo ra sự kèo dài TT phụ thuộc liều, có đồ thị dạng nửa logarit (semilog). Hiện nay, nó không còn được sử dụng cho mục đích này, mà thay bằng APTT.

Đối với bệnh nhân phẫu thuật bắt cầu tim phổi, nhận được một lượng lớn UFH (8-10IU/mL) nghĩa là cả TT và APTT đều không xác định được do cục máu đông không thể hình thành, và những xét nghiệm khác cần được thực hiện để theo dõi mức độ chống đông. Trong trường hợp đó, người ta sử dụng ACT (Activated Clotting Time, đọc ở phần Miscellaneous Tests). Ở bệnh nhân có APTT kéo dài trước khi phẫu thuật bắt cầu, như bệnh nhân suy giảm nặng yếu tố XII, ACT có thể nhầm lẫn. Khi đó đo mức anti-Xa có thể có giá trị.

TT thường được dùng để xác định có hay không sự hiện diện của heparin trong mẫu máu, trước khi nó được đem đi sử dụng cho các xét nghiệm đông máu phức tạp hơn. Một mẫu máu với TT kéo dài và thời gian reptilase (Reptilase Time) bình thường, hầu như có thể kết luận sự có mặt của UFH.

Một số test khác có thể dùng để kết luận có hay không sự hiện diện của heparin trong một mẫu với TT kéo dài gồm: Test hiệu chỉnh Protamine sulfate và Test xanh Toludine.

Protamine  sulphate là một thuốc thử tích điện dương, sẽ trung hòa UFH (và FDP). Ngược lại Xanh Toludine cũng sẽ hiệu chỉnh thời gian TT kéo dài ở một số trường hợp rối loạn fibrinogen máu.  

GIỚI THIỆU

Thrombin Time (hay Thrombin Clotting Time) là một xét nghiệm được thực hiện một cách rộng rãi mặc dù nó không cần thiết trong danh sách các các xét nghiệm sàng lọc. Reptilase

Time (RT) cũng là một test được thực hiện phổ biến, tương tự như TT nhưng sử dụng chất hoạt hóa khác (nọc độc rắn độc chứ không phải là thrombin)

*Reptilase là một enzyme tìm thấy trong nọc độc của rắn Bothrops, có hoạt tính tương tự thrombin. Không như thrombin, reptilase đề kháng với sự ức chế của antithrombin III, vì vậy RT không kéo dài trong mẫu máu có chứa heparin, hirudin, hoặc chất ức chế thrombin trực tiếp (DTI)

NGUYÊN LÝ

TT chỉ liên quan đến việc cho thrombin của người hoặc của bò vào PPP. Vì vậy nó phản ánh sự chuyển fibrinogen thành fibrin, nhưng nó cũng nhạy để xác định sự hiện diện của một số chất ức chế trong huyết tương như heparin.

TT cắt fibrinogen, tiết ra fibrinopeptide A (FpA) và fibrinopeptide B (FpB). Sản phẩm phân cắt chính, FpA được từ từ fibrinogen sau amino acid 16 hoặc đôi lúc là 19 và FpB là sản phẩm được cắt ra tại amino acid số 14.

PHƯƠNG PHÁP

Thrombin người (hoặc bò) được cho vào PPP tại 37 độ C và thời gian tạo thành cục đông của fibrin được ghi lại. Phục hồi calcium huyết tương là không cần thiết.

Thuốc thử Giải thích
PPP Xem phần “Những biến đổi tiền phân tích (Pre-analytical variables)”
Thrombin người hoặc bò (IIa) Trong quá khứ Thrombin bò thường được sử dụng, nhưng hiện nay hầu hết đã được thay thế bằng thrombin người.

Sơ đồ bên dưới cho thấy những giai đoạn liên quan đến TT

PHÂN TÍCH KẾT QUẢ

Nhìn chung, TT sẽ kéo dài khi mức fibrinogen có chức năng <1 g/L .

Bất thường Phân tích 
Suy giảm fibrinogen bẩm sinh Bệnh không có hoặc giảm mức fibrinogen máu afibrinogen/hypofibrinogen)

(Bệnh rối loạn chức năng (dysfibrinogen) hoặc cả số lượng và chức năng (hypo-dysfibrinogen) mức fibrinogen máu.

Suy giảm fibrinogen mắc phải DIC

Sau liệu pháp tiêu sợi huyết

Bệnh gan

Bệnh ác tính

Một số thuốc chống đông làm kéo dài TT UFH

LMWH không gây kéo dài TT trừ trường hợp nồng đồ rất cao – Hirudin

Argatroban

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ