Trên lâm sàng, các rối loạn nhịp tim (RLNT) được phân làm hai loại: Các RLNT chậm, 2. Các RLNT nhanh. RLNT chậm khi tần số tim < 60 chu kỳ/phút (ck/ph), các RLNT nhanh khi tần số tim > 90-100 ck/ph, lúc nghỉ ngơi.
Trong các RLNT chậm có hai loại bệnh lý phổ biến nhất là: hội chứng nút xoang bệnh lý và block nhĩ thất. Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày về chẩn đoán và điều trị hai loại RLNT chậm này.
HỘI CHỨNG NÚT XOANG BỆNH LÝ
Là tình trạng suy giảm hay mất khả năng phát xung điện chỉ huy tim đập của nút xoang. Hậu quả làm nhịp tim chậm xuống, thường đi kèm với các rối loạn nhịp ở tâm nhĩ như block xoang-nhĩ, các rối loạn nhịp nhanh như ngoại tâm thu nhĩ, tim nhanh nhĩ, nhịp nhanh trên thất kịch phát, rối loạn dẫn truyền nhĩ thất.
Có nhiều thuật ngữ để chỉ tình trạng bệnh lý này: hội chứng nút xoang bệnh lý, suy nút xoang, rối loạn chức năng nút xoang, hội chứng nhịp nhanh-chậm, bệnh nút xoang…
Triệu chửng và chẩn đoán
Triệu chứng cơ năng
Ngất hay choáng váng.
Mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt.
Thưc thể
Nghe tim: thường nhịp tim chậm dưới 55 – Ó0ck/ph.
Có thể có dấu hiệu tắc mạch ngoại biên.
Có thể có liệt nửa người do tai biến mạch máu não (TBMN).
Điện tâm đồ (ĐTĐ):
Có thể gặp một hay nhiều hơn các dấu hiệu sau đây:
Nhịp xoang chậm: dưới 60ck/ph; nếu theo dõi Holter ĐTĐ 24giờ có thế phát hiện nhịp chậm xoang dưới 40ck/ph nhất là trong lúc ngủ, các đoạn ngừng xoang trên 2,5 giây rất có giá trị chấn đoán.
Ngừng xoang: (Hình 1) chỉ có các nhịp thoát bộ nối, không thấy các sóng p trên tất cả các chuyển đạo.

– Block xoang – nhĩ (Hình 2) có đặc điểm trên cơ sở nhịp xoang chậm, thấy mất đi 1 hoặc 2 phức bộ P- QRS.

– Hội chứng nhịp nhanh – chậm: nhịp chậm xoang hay ngừng xoang xen kẽ với các rối loạn nhịp nhanh trên thất: nhanh nhĩ, nhanh bộ nối, rung nhĩ, cuồng nhĩ.
Trung tâm chủ nhịp thay đổi: còn gọi là trung tâm chủ nhịp lưu động trong nút xoang hay ngoài nút xoang. Biểu hiện ĐTĐ là hình dạng sóng p thay đồi liên quan đến sự thay đổi tần số QRS (tần số tim).
Rung nhĩ (RN); Khác với RN trong hội chứng nhịp nhanh – chậm là RN ở đây là KN có đáp ứng thất chậm (không đều) thường gọi là RN chậm mặc dù không có bất cứ lý do gì gây nhịp thất chậm như dùng các thuốc digitalis, chẹn beta…
Cần lưu ý phân biệt với RN có block nhĩ – thất cấp III thì nhịp QRS chậm nhưng đều.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ