Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Bài giảng lâm sàng Rung nhĩ

15 phút đọc

TỔNG QUAN

Rung nhĩ là một trong những rối loạn nhịp tim thường gặp nhất trong cộng đồng và thường gây ra những biến chứng nặng nề làm bệnh nhân có thể tử vong hoặc tàn phế suốt đời. Rung nhĩ có thể là nguyên nhân gây ra khoảng 5% các trường hợp đột quỵ mỗi năm. Ở bệnh nhân suy tim có kèm theo rung nhĩ, tỷ lệ tử vong tăng đến hơn 34%. Tỷ lệ rung nhĩ tăng dần theo tuổi, trung bình tỷ lệ mới mắc rung nhĩ khoảng 0,1% mỗi năm ở người dưới 40 tuổi nhưng tăng lên tới 1,5 – 2% ở người trên 80 tuổi. Theo nghiên cứu Pramingham, tỷ lệ rung nhĩ từ 0,95% đến 2,5% trong quần thể chung. Ở Việt Nam, tỷ lệ bệnh nhân mắc các bệnh lý tim mạch đang ngày càng gia tăng rõ rệt. Theo một nghiên cứu của Viện Tim mạch Việt Nam, rung nhĩ chiếm tỷ lệ 0,3% trong cộng đồng.

ĐỊNH NGHĨA

Rung nhĩ là biểu hiện bất thường về nhịp tim và làm cho nhịp tim không đều do trong tâm nhĩ có nhiều 0 ngoại vị phát xung động điện. Sóng p biến mất được thay thế bởi những sóng lăn tăn gọi là sóng f (íibrillation). Các sóng f này làm cho đường đắng điện thành một đường sóng lăn tăn. Rung nhĩ có các thể lâm sàng:

Cơn rung nhĩ kịch phát: rung nhĩ kéo dài < 7 ngày, tự hết. Hầu hết các cơn thường tự kết thúc trong vòng 48 giờ.

Rung nhĩ bền bỉ: rung nhĩ kéo dài > 7 ngày, phải dùng các biện pháp chuyển nhịp can thiệp mới có thể cắt được rung nhĩ.

Rung nhĩ mạn tính: kéo dài hơn 1 năm và không thể chuyển được về nhịp xoang ngay cả bằng các biện pháp can thiệp.

CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH

Lâm sàng

Thời điểm xuất hiện triệu chứng đầu tiên (có thể là ngày khởi phát rung nhĩ) như: hồi hộp đánh trống ngực, choáng váng, đau ngực…

Nhịp tim không đều lúc nhanh lúc chậm, tiếng tim lúc mạnh, lúc yếu (loạn nhịp hoàn toàn).

Phát hiện các triệu chứng của bệnh tim thực tổn như: bệnh van tim, bệnh mạch vành, bệnh tim bẩm sinh…

Điện tâm đồ thường quy 12 chuyển đạo

Sóng p biến mất được thay thế bởi những sóng lăn tăn gọi là sóng f (fíbrillation). Các sóng f này làm cho đường đẳng điện thành một đường sóng lăn tăn.

Sóng f có đặc điểm:

+ Tần số nhanh chậm không đều từ 300 – 600 ck/phút.

+ Các sóng f rất khác nhau về hình dạng, biên độ, thời gian.

+ Thấy rõ sóng f ở các chuyển đạo trước tim phải (VI, V3R) và các chuyển đạo dưới (D2, D3, aVF), còn các chuyển đạo trước tim trái (Dl, aVL, V5, Vó) thường không rõ.

Nhịp thất không đều: biểu hiện bằng các khoảng RR dài ngắn khác nhau, không theo quy luật nào cả.

Tần số thất nhanh hay chậm phụ thuộc vào dẫn truyền của nút nhĩ thất.

Hình dạng QRS nói chung thường hẹp, nhưng trên cùng một chuyển đạo có thể có khác nhau chút ít về biên độ, thời gian…

Phân biệt rung nhĩ với cuồng nhĩ điển hình, tần số sóng F từ 240 đến 320 ck/phút. Ngoài ra, còn cần phân biệt với nhịp nhanh nhĩ đa ổ luôn có sóng p đi trước QRS.

ĐIỀU TRỊ

Chiến lược điều trị rung nhĩ cần tuân thủ các nguyên tắc:

Kiểm soát tần số thất.

Chuyển rung nhĩ về nhịp xoang.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ