BỆNH LÝ PHỔI KẼ VÀ HIẾM GẶP – PHÂN TÍCH CA BỆNH VÀ THỰC TIỄN LÂM SÀNG (2025)
Rare and Interstitial Lung Diseases – Clinical Cases and Real-World Discussions – © 2025 Elsevier Inc
Biên tập: Claudio Sorino, MD, PhD; Sergio Agati, MD; Sonye Karen Danoff, MD, PhD; Francesco Bonella, MD, PhD; Nicola Scichilone, MD, PhD; Michele Mondoni, MD
Biên dịch: TS.BS. LÊ NHẬT HUY, THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG
Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website của Thư viện Y học Medipharm: yhoclamsang.net – sachyhoc.com
PHẦN I: CÁC BỆNH LÝ PHỔI KẼ XƠ HÓA
CHƯƠNG 1. VIÊM PHỔI TĂNG CẢM XƠ HÓA SAU PHƠI NHIỄM NẤM MỐC TRONG NHÀ KÉO DÀI
Fibrotic hypersensitivity pneumonitis after long-term exposure to household mold
Alice Biffi; Claudio Sorino; Silvia Pizzolato; Sergio Agati
Rare and Interstitial Lung Diseases, CHAPTER 1, 1-12
Bệnh Sử
Một người bệnh nam, 58 tuổi, đến khám tại phòng khám ngoại trú vì ho và khó thở khi gắng sức. Các triệu chứng này khởi phát khoảng 1 năm trước và diễn tiến nặng dần. Phim chụp X-quang ngực do bác sĩ chăm sóc ban đầu chỉ định cho thấy hình ảnh tổn thương kẽ dạng lưới (reticular interstitial pattern), lan tỏa cả hai phổi (Hình 1.1). Do đó, người bệnh được chuyển đến chuyên khoa Hô hấp.
Tiền Sử Y Khoa
Người bệnh là thợ sửa ống nước và có tiền sử hút thuốc lá 20 điếu/ngày, tổng cộng 30 bao-năm. Khi được hỏi về các yếu tố phơi nhiễm nguy cơ, người bệnh cho biết đang sống trong một ngôi nhà cũ, ẩm thấp. Người bệnh chưa từng thực hiện đo chức năng hô hấp trước đây. Thuốc duy nhất đang sử dụng hàng ngày là thuốc điều trị tăng huyết áp.

Hình 1.1: X-Quang ngực thẳng cho thấy hình ảnh tổn thương phổi kẽ dạng lưới lan tỏa, kèm giảm thể tích phổi.
Khám Thực Thể và Các Dấu Hiệu Lâm Sàng Ban Đầu
Tại thời điểm khám chuyên khoa hô hấp, người bệnh có thể trạng trung bình, không sốt và hợp tác tốt. Độ bão hòa oxy đo qua mạch nảy (SpO2) là 95% khi thở khí trời nhưng giảm nhanh xuống 86% khi vận động. Tương tự, người bệnh xuất hiện khó thở và thở nhanh khi đi bộ.
Khám phổi ghi nhận ran nổ nhỏ hạt (fine crackles) ở hai bên, đặc biệt rõ ở đáy phổi, và tiếng rít tiểu phế quản (squeaks). Khám thực thể cũng phát hiện ngón tay dùi trống (digital clubbing). Người bệnh không than phiền về cứng khớp hay các dấu hiệu và triệu chứng nào khác của bệnh lý thấp khớp.
Thảo Luận Chủ Đề 1
| Chủ đề Thảo luận |
|---|
| Bác sĩ Hô hấp A: Người bệnh có ran nổ nhỏ hạt ở hai đáy phổi. Đây là dấu hiệu điển hình của xơ phổi (pulmonary fibrosis). |
| Bác sĩ Hô hấp B: Chụp cắt lớp vi tính (CLVT) ngực sẽ là chỉ định bắt buộc để xác nhận chẩn đoán và đánh giá hình thái xơ hóa. |
| Bác sĩ Hô hấp C: Tôi đồng ý. Trong thời gian chờ đợi, hãy bắt đầu bằng việc đo chức năng hô hấp và đo khả năng khuếch tán khí của phổi để đánh giá tình trạng suy giảm chức năng hô hấp và trao đổi khí. |
| Bác sĩ Hô hấp B: Cân nhắc việc người bệnh có phơi nhiễm với nấm mốc, việc tìm kiếm kháng thể kết tủa IgG (precipitin IgG) đặc hiệu sẽ rất hữu ích. |
| Bác sĩ Hô hấp A: Các bạn có nghĩ người bệnh bị viêm phổi tăng cảm (Hypersensitivity Pneumonitis – HP) không? |
| Bác sĩ Hô hấp B: Đó chỉ là một trong các chẩn đoán phân biệt có thể xảy ra nhưng cần được xem xét kỹ lưỡng dựa trên tiền sử phơi nhiễm của người bệnh. |
| Bác sĩ Hô hấp C: Đúng vậy, nhưng hãy nhớ rằng xét nghiệm kháng thể kết tủa dương tính bản thân nó không đủ để chẩn đoán xác định, và nếu âm tính cũng không loại trừ được HP. Chúng ta cũng nên tầm soát các bệnh lý tự miễn và bệnh mô liên kết. |
Diễn Biến Lâm Sàng
Trong quá trình thăm khám, người bệnh được đo chức năng hô hấp, kết quả cho thấy hội chứng hạn chế (restrictive pattern) và giảm đáng kể dung lượng khuếch tán khí CO của phổi (DLCO) (Hình 1.2).
Các xét nghiệm tự miễn (kháng thể kháng nhân [ANA], kháng nguyên nhân hòa tan [ENA], kháng thể kháng bào tương bạch cầu đa nhân trung tính [ANCA], yếu tố dạng thấp [RF]) đều âm tính. Ghi nhận tình trạng tăng nhẹ các chỉ dấu viêm không đặc hiệu: tốc độ máu lắng [ESR] 34,5 mm/giờ (giá trị bình thường ở nam giới 51–85 tuổi < 20 mm/giờ) và Protein phản ứng C [CRP] 21,2 mg/L (giá trị bình thường < 10 mg/L).
Việc tìm kiếm kháng thể kết tủa IgG đặc hiệu đã được thực hiện, kết quả cho thấy tăng nhẹ IgG đối với phân chim bồ câu và nấm Aspergillus fumigatus.
Chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao (HRCT) lồng ngực cho thấy hình ảnh lưới (reticular opacities) hai bên kèm biến dạng nhu mô phổi, giãn tiểu phế quản co kéo (traction bronchiolectasis), hình ảnh tổ ong (honeycombing) ở trường phổi giữa và các vùng nhỏ kính mờ (ground-glass opacities). Các biến đổi nhu mô phổi tương đối bảo tồn vùng đáy phổi (base-sparing) nhưng không có gradient đáy-đỉnh rõ ràng (Hình 1.3).

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ