BỆNH LÝ PHỔI KẼ VÀ HIẾM GẶP – PHÂN TÍCH CA BỆNH VÀ THỰC TIỄN LÂM SÀNG (2025)
Rare and Interstitial Lung Diseases – Clinical Cases and Real-World Discussions – © 2025 Elsevier Inc
Biên tập: Claudio Sorino, MD, PhD; Sergio Agati, MD; Sonye Karen Danoff, MD, PhD; Francesco Bonella, MD, PhD; Nicola Scichilone, MD, PhD; Michele Mondoni, MD
Biên dịch: TS.BS. LÊ NHẬT HUY, THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG
Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website của Thư viện Y học Medipharm: yhoclamsang.net – sachyhoc.com
PHẦN III. CÁC BỆNH LÝ PHỔI U HẠT
CHƯƠNG 11: BỆNH LÝ PHỔI NHU MÔ LAN TỎA VỚI CÁC U HẠT Ở ĐẠI TRÀNG VÀ HẠCH BẠCH HUYẾT VÙNG CỔ DO LAO
Diffuse parenchymal lung disease with granulomas in the colon and cervical lymph nodes due to tuberculosis
Claudio Sorino; Federico Giussani; Michele Mondoni; Sergio Agati
Rare and Interstitial Lung Diseases, CHAPTER 11, 123-134
Bệnh Sử
Một nam bệnh nhân 53 tuổi, chủng tộc da trắng, nhập viện tại khoa ngoại do tắc ruột và nghi ngờ ung thư đại tràng. Bệnh nhân đã được phẫu thuật cắt nửa đại tràng phải (right hemicolectomy) một thì, kèm nối tận-tận. Kết quả giải phẫu bệnh của đoạn ruột bị cắt bỏ cho thấy không có ung thư nhưng ghi nhận tình trạng viêm mô với các u hạt không hoại tử (non-necrotizing granulomas) và tổn thương lan rộng ở van hồi-manh tràng và đoạn cuối hồi tràng (Hình 11.1). Do đó, bệnh nhân được chẩn đoán viêm đoạn cuối hồi tràng do bệnh Crohn (Crohn disease).
Trong thời gian nằm viện, phim chụp X-quang ngực trước phẫu thuật cho thấy các đám mờ nhạt ở hai bên vùng giữa và vùng trên phổi (Hình 11.2). Bệnh nhân không có triệu chứng hô hấp nào; do đó, ông được xuất viện và hẹn lịch khám ngoại trú chuyên khoa hô hấp.
Tiền Sử Y Khoa
Bệnh nhân là thợ sửa ống nước, không hút thuốc lá trong suốt cuộc đời và không có tiền sử dị ứng. Ông mắc thoát vị hoành và viêm dạ dày nhẹ âm tính với Helicobacter pylori. Nhiều năm trước, ông đã trải qua phẫu thuật cắt tĩnh mạch hiển phải và cắt sụn chêm phải. Bệnh nhân không sử dụng thuốc thường xuyên. Trong gia đình không có ai mắc bệnh lý hô hấp.
Khám Thực Thể Và Các Dấu Hiệu Lâm Sàng Ban Đầu
Tại buổi khám chuyên khoa hô hấp, bệnh nhân không sốt, tỉnh táo và hợp tác. Ông không khó thở khi nghỉ ngơi hay khi gắng sức. Độ bão hòa oxy đo qua mạch nảy (SpO2) là 97% khi thở khí phòng, nhịp tim 76 nhịp/phút, tần số thở 15 lần/phút và huyết áp 120/80 mmHg. Khám thực thể ghi nhận tiếng phổi bình thường. Không quan sát thấy dấu hiệu xanh tái, ngón tay dùi trống (clubbing) hay phù ngoại vi.
Phim chụp cắt lớp vi tính (CT) lồng ngực cho thấy nhiều hình ảnh kính mờ (ground-glass hyperdensities) dạng tròn với sự phân bố trung tâm tiểu thùy. Phần trung tâm của các tổn thương có tỷ trọng thấp hơn phần ngoại vi (dấu hiệu đảo ngược hào quang [reversed halo sign] hay dấu hiệu atoll [atoll sign]). Các tổn thương này chủ yếu nằm ở cả hai thùy trên và các phân thùy đỉnh của thùy dưới (Video 11.1; Hình 11.3). Các hạch bạch huyết vôi hóa cạnh khí quản và dưới ngã ba khí phế quản (subcarinal) cũng được ghi nhận (Hình 11.4).

Hình 11.1: Các tiêu bản mô học từ đoạn hồi tràng cuối sau phẫu thuật cắt nửa đại tràng phải, cho thấy các vết nứt rộng của niêm mạc (A: nhuộm hematoxylin và eosin [H&E] ×4) và nhiều u hạt dạng biểu mô không hoại tử (các mũi tên) với các tế bào khổng lồ (B: nhuộm H&E ×20, C: nhuộm H&E x40, D: nhuộm H&E ×60).

Hình 11.2: Phim X-quang ngực thẳng (A) và nghiêng (B) cho thấy các đám mờ nhạt hai bên ở vùng giữa và vùng trên phổi.

Hình 11.3: Phim chụp CLVT ngực lát cắt ngang (cửa sổ nhu mô phổi) cho thấy các đám mờ kính dạng tròn hai bên với phân bố trung tâm tiểu thùy, bao quanh bởi các vùng tăng tỷ trọng (dấu hiệu đảo ngược hào quang hoặc dấu hiệu atoll).

Hình 11.4: Chi tiết trên phim chụp CLVT ngực lát cắt ngang cho thấy các hạch bạch huyết vôi hóa cạnh khí quản (A) và dưới ngã ba khí phế quản (Carina) (B) (các mũi tên).
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ