Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

BỆNH LÝ PHỔI KẼ VÀ HIẾM GẶP – Phân Tích Ca Bệnh & Thực Tiễn Lâm Sàng (2025). CHƯƠNG 12

20 phút đọc

BỆNH LÝ PHỔI KẼ VÀ HIẾM GẶP – PHÂN TÍCH CA BỆNH VÀ THỰC TIỄN LÂM SÀNG (2025)
Rare and Interstitial Lung Diseases – Clinical Cases and Real-World Discussions – © 2025 Elsevier Inc
Biên tập: Claudio Sorino, MD, PhD; Sergio Agati, MD; Sonye Karen Danoff, MD, PhD; Francesco Bonella, MD, PhD; Nicola Scichilone, MD, PhD; Michele Mondoni, MD
Biên dịch: TS.BS. LÊ NHẬT HUY, THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG
Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website của Thư viện Y học Medipharm: yhoclamsang.net – sachyhoc.com


PHẦN IV: CÁC BỆNH LÝ PHỔI LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH MÔ LIÊN KẾT


CHƯƠNG 12: XƠ PHỔI VÀ NỐT PHỔI ĐƠN ĐỘC TRONG VIÊM KHỚP DẠNG THẤP TIỀM ẨN

Pulmonary fibrosis and solitary pulmonary nodule in hidden rheumatoid arthritis
Riccardo Messina; Nunzia Cannizzaro; Roberto Marchese; Claudio Sorino; Sergio Agati; Nicola Scichilone
Rare and Interstitial Lung Diseases, CHAPTER 12, 135-146


Bệnh Sử

Một người đàn ông da trắng 78 tuổi đến khám tại phòng khám ngoại trú chuyên khoa Hô hấp với than phiền về tình trạng ho khan dai dẳng và khó thở (Dyspnea) khi gắng sức mức độ trung bình trong năm qua. Theo gợi ý của bác sĩ đa khoa, người bệnh trước đó đã được chụp X-quang ngực, kết quả cho thấy hình ảnh lưới không đều ở các vùng thấp của phổi, nghi ngờ Bệnh phổi kẽ (Interstitial Lung Disease – ILD).

Tiền Sử Y Khoa

Người bệnh là người chưa từng hút thuốc lá và trước đây là nhân viên công viên giải trí, tiền sử gia đình không ghi nhận bệnh lý phổi. Ông khai có mắc bệnh tuyến giáp không xác định loại, không cần điều trị y tế, trong khi đó ông đang dùng thuốc ức chế bơm proton (PPI) để điều trị Trào ngược dạ dày thực quản (Gastroesophageal Reflux Disease) và một thuốc nhóm sartan để điều trị tăng huyết áp. Ông phủ nhận việc tiếp xúc với nấm mốc và chim vẹt tại nhà trong vài năm qua. Ông báo cáo không có các triệu chứng liên quan đến Hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (Obstructive Sleep Apnea Syndrome) hoặc các triệu chứng liên quan đến hen phế quản trong suốt cuộc đời. Tám năm trước, ông đã trải qua phẫu thuật cắt bỏ ruột triệt căn do ung thư trực tràng và không cần hóa trị.

Sau đó, ông tuân thủ nghiêm ngặt lịch theo dõi ung thư định kỳ và không có bằng chứng về việc bệnh tái phát hoặc lan rộng.

Khám Thực Thể Và Các Dấu Hiệu Lâm Sàng Ban Đầu

Khi khám thực thể, người bệnh tỉnh táo và hợp tác, không sốt, thở êm lúc nghỉ (tần số thở 14 lần/phút). Độ bão hòa oxy máu (SpO2) là 96% khi thở khí phòng, nhịp tim 78 nhịp/phút, và huyết áp 120/65 mmHg. Không có dấu hiệu và triệu chứng hiện tại hoặc trước đây gợi ý đến Bệnh mô liên kết (Connective Tissue Disease – CTD) hoặc viêm mạch hệ thống.

Nghe phổi ghi nhận rì rào phế nang giảm ở tất cả các vùng phổi kèm theo sự hiện diện của ran nổ kiểu Velcro (Velcro-like crackles) ở đáy phổi hai bên. Người bệnh được chỉ định Chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao (High-Resolution Computed Tomography – HRCT) lồng ngực, kết quả xác nhận tình trạng bệnh phổi kẽ với hình ảnh lưới, tổ ong (honeycombing) dưới màng phổi và ở đáy phổi, cùng với giãn phế quản do co kéo (traction bronchiectasis), và không có các đặc điểm không phù hợp với kiểu hình Viêm phổi kẽ thông thường (Usual Interstitial Pneumonia – UIP) (Hình 12.1 và 12.2).

Đo chức năng hô hấp (Spirometry/Pulmonary Function Tests – PFTs) cho thấy rối loạn thông khí hạn chế với sự giảm khả năng khuếch tán khí của phổi đối với carbon monoxide (Diffusing Capacity of the Lung for Carbon Monoxide – DLCO): Dung tích sống gắng sức (Forced Vital Capacity – FVC) đạt 72% giá trị dự đoán, Dung tích toàn phổi (Total Lung Capacity – TLC) đạt 80% giá trị dự đoán, DLCO đạt 55% giá trị dự đoán. Ông cũng thực hiện nghiệm pháp đi bộ 6 phút mà không bị giảm oxy máu đáng kể (quãng đường đi được 400 m, nghiệm pháp không bị gián đoạn sớm).

Trong lần khám thứ hai, sàng lọc tự miễn dịch cho thấy dương tính với kháng thể kháng nhân (Antinuclear Antibodies – ANA) (hiệu giá 1:160) với định danh kháng thể kháng nhân chiết xuất được (ENA) âm tính, mô hình viêm cơ âm tính, và không tìm thấy giá trị dương tính nào đối với yếu tố dạng thấp (Rheumatoid Factor – RF), kháng thể kháng peptide citrulline dạng vòng (Anti-Cyclic Citrullinated Peptide Antibodies – ACPAs), kháng thể kháng bào tương bạch cầu đa nhân trung tính dạng bào tương (c-ANCA) và dạng quanh nhân (p-ANCA); các chỉ số viêm và dấu ấn viêm gan virus cấp (virus viêm gan B và C) cũng âm tính. Siêu âm tim cho thấy các buồng tim phải bình thường, hở van ba lá tối thiểu và chức năng tâm thu bảo tồn (phân suất tống máu thất trái [LVEF] 65%).

Hình 12.1: Phim chụp CLVT lồng ngực độ phân giải cao (HRCT) mặt cắt ngang (axial) cho thấy hình ảnh UIP với các bất thường dạng lưới, giãn phế quản do co kéo và tổ ong dưới màng phổi/đáy phổi.

Hình 12.2: Hình ảnh UIP trên các tái tạo mặt phẳng đứng ngang (coronal) (A–C) và đứng dọc (sagittal) (D–F) của phim chụp HRCT lồng ngực.

Thảo Luận Chủ Đề 1

Người thảo luận Nội dung
Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh Phim chụp HRCT lồng ngực của người bệnh này không để lại nghi ngờ gì. Có một hình ảnh X-quang rõ ràng của viêm phổi kẽ thông thường (UIP).
Bác sĩ Hô hấp A Xem xét các đặc điểm lâm sàng, chức năng và hình ảnh học, chẩn đoán có khả năng nhất là Xơ phổi vô căn (Idiopathic Pulmonary Fibrosis – IPF).
Bác sĩ Hô hấp B Liệu người bệnh có cần sinh thiết phổi để xác nhận chẩn đoán không?
Bác sĩ Hô hấp A Không, ông ấy không cần. Trong bối cảnh dịch tễ học và lâm sàng phù hợp, hình ảnh X-quang kiểu hình UIP cung cấp chẩn đoán IPF với độ tin cậy cao.
Bác sĩ Hô hấp B Chúng ta thấy ANA dương tính (1:160) trên xét nghiệm máu. Liệu điều này có làm tăng nghi ngờ về bệnh phổi kẽ thứ phát do bệnh mô liên kết (CTD) không?
Bác sĩ Cơ xương khớp Chúng ta không có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào tương thích với chẩn đoán CTD. Hơn nữa, xét nghiệm ANA có thể dương tính ở những người bệnh IPF.

Diễn Tiến Lâm Sàng

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ