BỆNH LÝ PHỔI KẼ VÀ HIẾM GẶP – PHÂN TÍCH CA BỆNH VÀ THỰC TIỄN LÂM SÀNG (2025)
Rare and Interstitial Lung Diseases – Clinical Cases and Real-World Discussions – © 2025 Elsevier Inc
Biên tập: Claudio Sorino, MD, PhD; Sergio Agati, MD; Sonye Karen Danoff, MD, PhD; Francesco Bonella, MD, PhD; Nicola Scichilone, MD, PhD; Michele Mondoni, MD
Biên dịch: TS.BS. LÊ NHẬT HUY, THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG
Xuất bản trực tuyến duy nhất trên các website của Thư viện Y học Medipharm: yhoclamsang.net – sachyhoc.com
PHẦN IV: CÁC BỆNH LÝ PHỔI LIÊN QUAN ĐẾN BỆNH MÔ LIÊN KẾT
CHƯƠNG 13. BỆNH LÝ PHỔI KẼ VỚI HÌNH ẢNH CẮT LỚP VI TÍNH PHÂN GIẢI CAO CÓ DẠNG VIÊM PHỔI KẼ THÔNG THƯỜNG Ở BỆNH NHÂN XƠ CỨNG BÌ TOÀN THỂ CHƯA ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN TRƯỚC ĐÓ
Interstitial lung disease with high-resolution computed tomography pattern of usual interstitial pneumonia in a patient with unknown systemic sclerosis
Carlo Vancheri; Gianluca Sambataro; Claudio Sorino
Rare and Interstitial Lung Diseases, CHAPTER 13, 147-158
Bệnh Sử
Một người đàn ông da trắng 61 tuổi đến phòng khám ngoại trú chuyên khoa hô hấp vì tình trạng khó thở đã tiến triển nặng dần trong 2 năm qua.
Trước đó, bệnh nhân đã khám bác sĩ đa khoa, người này đề nghị chụp X-quang ngực và sau đó là chụp cắt lớp vi tính phân giải cao (High-Resolution Computed Tomography – HRCT) lồng ngực. Kết quả cho thấy bệnh phổi kẽ (Interstitial Lung Disease – ILD) đặc trưng bởi hình ảnh tổ ong lan tỏa ưu thế ở vùng dưới màng phổi và đáy phổi, kèm theo giãn phế quản co kéo (Traction Bronchiectasis) và các vùng kính mờ (Ground-Glass Opacities) chồng lên trên các dải lưới (Hình 13.1). Các dấu hiệu hình ảnh học này được phân loại là hình thái viêm phổi kẽ thông thường (Usual Interstitial Pneumonia – UIP).
Vì lý do này, bệnh nhân được mời đến hội chẩn với một Bác sĩ Hô hấp, người đã đưa ra giả thuyết chẩn đoán là xơ phổi vô căn (Idiopathic Pulmonary Fibrosis – IPF) và chuyển bệnh nhân đến trung tâm chuyển tuyến khu vực về các bệnh phổi hiếm gặp để thiết lập phương pháp điều trị thích hợp.
Tiền Sử Y Khoa
Bệnh nhân là một thương nhân, không ghi nhận có phơi nhiễm đáng kể với các tác nhân độc hại. Ông là người từng hút thuốc lá mức độ nhẹ (tính toán là 12 bao-năm) và đã cai thuốc khoảng 10 năm trước lần khám này. Bệnh nhân dùng thuốc hàng ngày để điều trị tăng huyết áp hệ thống mức độ nhẹ (ramipril 2,5 mg một lần/ngày). Gần đây, một Bác sĩ Hô hấp khác đã cho dùng prednisone đường uống 37,5 mg/ngày và thở oxy bổ sung với lưu lượng 2 L/phút do có bằng chứng suy hô hấp ngay cả khi nghỉ ngơi.
Khám Thực Thể Và Các Dấu Hiệu Lâm Sàng Ban Đầu
Tại lần đánh giá đầu tiên ở trung tâm chuyển tuyến khu vực về các bệnh phổi hiếm gặp, bệnh nhân biểu hiện khó thở nặng khi gắng sức tối thiểu. Bệnh nhân không sốt và huyết áp tăng nhẹ (140/85 mmHg). Nhịp tim là 111 nhịp/phút, trong khi nhịp thở là 21 lần/phút. Suy hô hấp mạn tính loại 1 đã được xác nhận: độ bão hòa oxy (SpO2) khi nghỉ ngơi là 87% ở khí phòng, với PaO2 54,4 mmHg (7,25 kPa) và PaCO2 36,8 mmHg (4,9 kPa) trên kết quả khí máu động mạch. Bệnh nhân đạt SpO2 92% với oxy bổ sung 2 L/phút. Khi thăm khám ngực, nghe thấy ran nổ kiểu Velcro (Velcro-like crackles) ở hai bên trường phổi giữa và thấp. Bệnh nhân than phiền về tình trạng trào ngược dạ dày thực quản nhưng không có triệu chứng nào khác tương thích với các bệnh lý mô liên kết (Connective Tissue Diseases – CTDs).

Hình 13.1 Chụp CT ngực độ phân giải cao (cửa sổ nhu mô phổi) cho thấy hình ảnh tổ ong lan tỏa ở đáy phổi (đầu mũi tên màu xanh lá cây) và giãn phế quản co kéo (mũi tên màu vàng), cả hai đều là những đặc điểm hình ảnh quan trọng của hình thái viêm phổi kẽ thông thường. Cũng có thể nhận thấy tình trạng giãn thực quản (mũi tên màu đỏ) và rải rác các đám kính mờ (mũi tên màu xanh nhạt).
Chủ Đề Thảo Luận 1
| Bác sĩ Hô hấp A: Các dấu hiệu lâm sàng và hình ảnh học đều hướng đến xơ phổi vô căn (Idiopathic Pulmonary Fibrosis – IPF).
Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh: Tôi đồng ý. Tổ ong là một tiêu chuẩn chính trên chụp cắt lớp vi tính phân giải cao (HRCT) cho viêm phổi kẽ thông thường (UIP)-IPF khi thấy ưu thế ở đáy và ngoại vi. Mức độ kính mờ thay đổi là phổ biến nhưng, như trong trường hợp này, không nên chiếm ưu thế. Bác sĩ Hô hấp B: Tuy nhiên, điều quan trọng là phải loại trừ các bệnh phổi kẽ (ILD) khác có thể xuất hiện với hình thái UIP trên chẩn đoán hình ảnh. Bác sĩ Hô hấp C: Theo ý kiến của tôi, cần xem xét bệnh phổi kẽ liên quan đến bệnh lý mô liên kết (CTD) vì các nang tổ ong rất rộng. Hình ảnh tổ ong chiếm > 70% các phần xơ hóa của phổi được gọi là “dấu hiệu tổ ong quá mức” (Exuberant honeycombing sign), điều này làm dấy lên nghi ngờ về CTD. Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh: Ngoài ra, còn có giãn thực quản, một dấu hiệu tương thích với xơ cứng bì toàn thể (Systemic Sclerosis – SSc). Nó xảy ra ở khoảng ba phần tư số bệnh nhân và dường như có liên quan đến sự phát triển của ILD. Bác sĩ Hô hấp B: Chúng ta sẽ nhờ Bác sĩ Cơ xương khớp khám cho bệnh nhân. |
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ