Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Bệnh rỗng tủy (Syringomyelia)

14 phút đọc

PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm – BV 103

1. Đại cương

1.1. Định nghĩa

Bệnh rỗng tủy sống (Syringomyelia) là bệnh mạn tính, tổn thương xảy ra ở tủy sống do hình thành nang hoặc khoang dịch lỏng trong tủy sống. Tổn thương này có thể phát triển mở rộng theo thời gian, trải dài xuống hai hoặc nhiều đoạn cột sống từ mức tổn thương ban đầu. Biểu hiện lâm sàng là những rối loạn vận động, cảm giác và dinh dưỡng.

Bất thường nội tủy được mô tả đầu tiên bởi Esteinne năm 1546, tới năm 1827 thuật ngữ về rỗng tủy mới chính thức được sử dụng bởi Charles P. Ollivier D’Angers.

Hình 1. Mô hình rỗng tủy sống

1.2. Phân loại

– Theo lâm sàng (Borisova NA 1989) chia ra:

+ Sừng bên: 40 – 50%

+ Sừng trước: 10-15%

+ Hỗn hợp: 30 – 40%

+ Hành tủy:

Hình 2. Vị trí tổn thương.

– Theo vị trí tổn thương bệnh lý:

+ Cột sống 8-10% (trong đó: cổ 2-4%, cổ – ngực 70 – 80%, ngực  10%, thắt lưng – cùng  1-2%)

+ Thân não

+ Cuống não – tủy sống

– Theo tiến trình của bệnh:

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ