Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Bệnh Thận Nhi khoa, Cách tiếp cận dựa trên Tình huống. Ấn bản 2026. CHƯƠNG 8. BỆNH LÝ ỐNG – KẼ THẬN

156 phút đọc

Bệnh Thận Nhi khoa, Cách Tiếp cận Dựa trên Tình huống. Ấn bản 2026
Pediatric Kidney Disease, A Case – Based Approach, 2026 Edition
Tác giả: Farahnak Assadi – Nhà xuất bản: ELSEVIER – Biên Dịch: Ths.Bs. Lê Đình Sáng


CHƯƠNG 8. BỆNH LÝ ỐNG – KẼ THẬN

Tubulointerstitial Disease
Farahnak Assadi
Pediatric Kidney Disease, CHAPTER 8, 325-374


Ca Lâm Sàng 1

Một bé trai 3 tháng tuổi được đưa đến khoa cấp cứu nhi với tình trạng bú kém, nôn trớ thường xuyên và giảm hoạt động trong 1 ngày. Trẻ sinh đủ tháng với cân nặng lúc sinh là 4410g, mẹ bị tiền sản giật (preeclampsia) và đái tháo đường thai kỳ. Do ngạt khi sinh, trẻ mắc bệnh não thiếu oxy – thiếu máu cục bộ (hypoxic-ischemic encephalopathy) kèm động kinh, được điều trị bằng phenobarbital. Trẻ được nuôi bằng sữa công thức tiêu chuẩn mà không dùng thêm thuốc bổ sung nào. Gia đình không có tiền sử mắc bệnh thận.

Mạch của trẻ là 131 lần/phút, huyết áp (BP) 83/41 mm Hg, nhịp thở 34 lần/phút, và thân nhiệt 37,0°C. Thăm khám lâm sàng cho thấy trẻ lơ mơ, thời gian làm đầy mao mạch chậm, và có nhiều nốt cứng dưới da, vùng da bên trên không đổi màu ở lưng và cổ. Không có nét mặt dị hình, không có tiếng thổi ở tim hay bất thường nào khác. Bất thường nổi bật nhất trong xét nghiệm là tình trạng tăng canxi máu (hypercalcemia) nghiêm trọng (canxi toàn phần 15,1 mg/dL [3,77 mmol/L]) kèm tăng canxi niệu (tỷ lệ canxi/creatinine niệu là 3,1 mg/mg [3,5 mmol/mmol], giới hạn bình thường [NR] <0,8 mg/mg [<0,9 mmol/mmol]). Các xét nghiệm máu còn lại cho thấy Na+ 139 mmol/L, K+ 5,6 mmol/L, Cl- 105 mmol/L, phosphate vô cơ 5,2 mg/dL [1,68 mmol/L], nitơ urê máu (BUN) 19 mg/dL [6,8 mmol/L], và creatinine 0,61 mg/dL [54 µmol/L]. Các chỉ số hormone cho thấy hormone tuyến cận giáp nguyên vẹn (iPTH) thấp (<2,5 pg/mL; NR, 7-53) nhưng vitamin D3 1,25(OH)2 bình thường (44 ng/mL; NR, 15-55), chức năng tuyến giáp và nồng độ cortisol bình thường. Siêu âm vùng cổ cho thấy rõ độ dày da tăng lên và tăng hồi âm của lớp mỡ dưới da. Siêu âm thận phát hiện tăng hồi âm lan tỏa hai bên tháp thận, điển hình cho tình trạng vôi hoá tủy thận (medullary nephrocalcinosis).

Nguyên nhân cơ bản gây tăng canxi máu là gì?

A. Tăng tái hấp thu canxi từ xương (tăng canxi máu do hủy xương)

B. Tăng hấp thu canxi từ ruột (tăng canxi máu do hấp thu)

C. Hoại tử mỡ dưới da gây tăng canxi máu

D. Tăng tái hấp thu canxi tại thận (tăng canxi niệu do thận)

 

Đáp án đúng là C

Bàn luận: Các đặc điểm lâm sàng của tăng canxi máu ở trẻ nhũ nhi có thể bao gồm đa niệu, giảm thể tích tuần hoàn, yếu cơ, giảm trương lực cơ và rối loạn ý thức dẫn đến các cơn co giật. Việc nhận biết sớm tình trạng tăng canxi máu là rất quan trọng để ngăn ngừa các biến cố thảm khốc. Nhìn chung, các nguyên nhân không đồng nhất gây tăng canxi máu có thể được chia thành ba nhóm:

  • Tăng tái hấp thu canxi tại ống thận (tăng canxi máu do tái hấp thu)
  • Tăng hủy xương giải phóng canxi (tăng canxi máu do hủy xương)
  • Tăng hấp thu canxi từ đường tiêu hóa (tăng canxi máu do hấp thu)

Khai thác tiền sử bệnh chi tiết và thăm khám lâm sàng toàn diện, đo tỷ lệ bài tiết canxi qua nước tiểu, nồng độ iPTH huyết thanh và mức vitamin D3 1,25(OH)2 giúp phân biệt nhanh chóng ba nhóm nguyên nhân này. Ở bệnh nhân này, tình trạng tăng canxi niệu rõ rệt, iPTH huyết thanh thấp nhưng nồng độ vitamin D3 1,25(OH)2 huyết thanh cao bất thường gợi ý đến tăng canxi máu do hấp thu. Trẻ không nhận được các chất bổ sung vitamin D ngoại sinh, chẳng hạn như sữa công thức tăng cường vitamin, vốn là nguyên nhân phổ biến nhất gây tăng canxi máu ở trẻ em.

Các phát hiện bệnh học từ sinh thiết các nốt dưới da vùng cổ cho thấy trẻ bị hoại tử mỡ dưới da (subcutaneous fat necrosis) gây ra tăng canxi máu do hấp thu. Trẻ được điều trị bằng bù dịch tĩnh mạch và furosemide cùng với kali citrate đường uống. Mức canxi huyết thanh của trẻ trở về bình thường trong vòng 5 ngày, sau đó là sự tan biến của các nốt dưới da 3 tuần sau đó và sự cải thiện tình trạng vôi hoá tủy thận trong quá trình theo dõi 6 tháng.

 

Ca Lâm Sàng 2

Một bé trai 3 tuổi đến khám với tiền sử nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) kèm sốt lúc 2 tuổi. Cấy nước tiểu mọc vi khuẩn Escherichia coli >10^5 khóm/mL. Trẻ đã được điều trị một đợt kháng sinh và sau đó bắt đầu dùng kháng sinh dự phòng. Siêu âm thận ban đầu thực hiện 1 tuần sau khi điều trị UTI cho kết quả bình thường, với kích thước thận phải là 5,1 cm và thận trái là 6 cm. Xạ hình thận với Technetium-99m dimercaptosuccinic acid (99mTc-DMSA) thực hiện 6 tuần sau khi điều trị UTI cho thấy chỉ có một lượng nhỏ chất phóng xạ được hấp thu ở cả hai thận. Chức năng thận bình thường dựa trên chỉ số creatinine huyết thanh là 0,4 mg/dL [35 µmol/L]. Xạ hình DMSA được lặp lại 6 tháng sau đó do hình ảnh thận bất thường ở lần chụp đầu tiên. Một lần nữa, xạ hình cho thấy không có sự cố định 99mTc-DMSA tại thận, và chức năng thận của trẻ vẫn bình thường với chỉ số creatinine là 0,3 mg/dL [27 µmol/L]. Sau những phát hiện bất thường này, một xạ hình thận MAG3 đã được thực hiện, xác nhận cả hai thận đều hoạt động bình thường dựa trên sự tưới máu, hấp thu và bài tiết chất phóng xạ bình thường. Độ hấp thu tương đối tại thời điểm 3 phút là 49% bên trái và 51% bên phải. Chụp bàng quang niệu đạo khi tiểu (micturating cystourethrogram) cho thấy không có trào ngược bàng quang – niệu quản (vesicoureteric reflux).

Tỷ lệ albumin/creatinine niệu trong các lần xét nghiệm lặp lại đều tăng, dao động từ 65 đến 112 mg/mg [~7,3 – 12,6 mg/mmol]. Thu thập nước tiểu 24 giờ lúc 12 tháng tuổi chỉ ra tình trạng tăng canxi niệu ở mức 5,9 mg/kg/ngày [0,15 mmol/kg/ngày]. Áp lực thẩm thấu nước tiểu sáng sớm bình thường. Nước tiểu của bệnh nhân cho thấy tình trạng tiểu ra axit amin (aminoaciduria) toàn thể mức độ nhẹ. Protein gắn retinol trong nước tiểu cũng được phát hiện tăng ở trẻ này với mức 220 mg/L (giới hạn bình thường, 0-15 mg/L). Cystine trong bạch cầu là 0,05 nmol nửa-cystine/mg protein (giới hạn bình thường <0,3 nửa-cystine/mg protein), do đó loại trừ chẩn đoán bệnh Cystinosis thể bệnh thận (nephropathic cystinosis). Sự tái hấp thu phosphate ở ống thận là bình thường.

Về mặt lâm sàng, trẻ không có bất kỳ đặc điểm nào của bệnh thận và sự tăng trưởng bình thường. Khám mắt loại trừ bất kỳ thay đổi nào ở giác mạc hoặc võng mạc. Sinh thiết thận đã được thực hiện và thu được 73 cầu thận; 3 trong số này nhỏ và xơ hóa, liên quan đến một số xơ hóa kẽ và teo ống thận. Các cầu thận khác không có gì đặc biệt và hình thái bình thường, hình ảnh gợi ý teo khu trú nhẹ không đặc hiệu và có thể đại diện cho sẹo. Không có bằng chứng của bệnh lý ống thận. Sinh thiết không cung cấp thêm thông tin nào giải thích cho sự vắng mặt của việc hấp thu 99mTc-DMSA ở thận của cậu bé này. Do có protein niệu, bệnh nhân được bắt đầu dùng enalapril. Siêu âm lặp lại 8 tháng sau đó cho thấy thận phát triển phù hợp. Vì không có bằng chứng về trào ngược bàng quang – niệu quản trên phim chụp bàng quang khi tiểu và không có thêm đợt UTI nào xảy ra, kháng sinh dự phòng đã được ngừng khi trẻ 2 tuổi 5 tháng. Sự tăng trưởng được duy trì và trẻ tiếp tục không có triệu chứng và huyết áp bình thường. Một siêu âm thận khác lúc 6 tuổi cho thấy vôi hoá nhu mô thận (nephrocalcinosis).

Nguyên nhân nào gây ra sự hấp thu kém 99mTc-DMSA ở bệnh nhân này?

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Trang Chủ