Đại cương
Bệnh mạch vành, hay bệnh tim thiếu máu cục bộ có cơ chế sinh lý bệnh là sự mất cân bằng giữa cung và cầu oxy cho cơ tim.
Nguyên nhân
Nguyên nhân thường gặp nhất là do xơ vữa động mạch vành làm hẹp một hoặc nhiều nhánh động mạch vành. Cơn đau thắt ngực ổn định là biểu hiện lâm sàng đầu tiên của bệnh mạch vành ở 50% bệnh nhân.
Chẩn đoán cơn đau thắt ngực ổn định
Công việc chẩn đoán
Hỏi bệnh sử
- Vị trí và hướng lan: đau ở vùng sau xương ức hoặc ngực trái, đau lan lên cổ, hàm dưới, vai trái, mặt trong cánh tay và các ngón tay 4, 5.
- Tính chất: đau ngực có cảm giác bóp chặt, thắt nghẹt, đè nặng trước ngực.
- Cường độ: vừa phải, bệnh nhân chịu đựng được nhưng khiến bệnh nhân phải ngưng gắng sức.
- Thời gian cơn đau: thường kéo dài khoảng vài phút (5-10 phút), nếu đau ngực kéo dài > 20 phút nghĩ đến đau thắt ngực không ổn định hoặc nhồi máu cơ tim.
- Hoàn cảnh xuất hiện: thường gặp khi gắng sức, xúc cảm mạnh, trời lạnh, sau bữa ăn no.
- Cơn đau giảm khi bệnh nhân ngưng gắng sức hoặc sau khi ngậm nitroglycerin dưới lưỡi.
- Đau ngực có thể kèm theo buồn nôn, khó thở, hồi hộp, đánh trống ngực.
Theo Hội Tim mạch Hoa Kì/Trường môn Tim mạch Hoa Kì (AHA/ACC), triệu chứng đau ngực chia ra ba nhóm:
- Cơn đau thắt ngực điển hình do bệnh mạch vành bao gồm ba đặc điểm: đau thắt ngực ở vùng sau xương ức với tính chất và thời gian điền hình, xuất hiện khi gắng sức hay xúc động nhiêu, giảm đau khi nghi hay dùng nitrates.
- Đau thắt ngực không điển hình: chỉ có hai trong ba triệu chứng trên
- Đau ngực không đặc hiệu (không phải cơn đau thắt ngực) chỉ có một hoặc không có đặc điểm nào nói trên.
Phẩn loại mức độ đau thắt ngực: theo Hiệp hội Tim mạch Canada: CCS
- Độ I: Đau thắt ngực chỉ xảy ra khi hoạt động thể lực rất mạnh.
- Độ H: Hạn chế nhẹ hoạt động thể lực bình thường. Đau thắt ngực xuất hiện khi leo cao > 1 lầu bằng cầu thang hay đi bộ khoảng cách hơn hai dãy nhà.
- Độ lũ: Hạn chế đáng kể hoạt động thề lực thông thường. Đau thắt ngực khi đi bộ khoảng cách từ 1-2 dãy nhà hoặc leo cao 1 tàng làu.
- Độ IV: Các hoạt động thề lực bình thường đều gây đau thắt ngực, đau thắt ngực khi làm việc nhẹ, khi gắng sức nhẹ.
Khám lâm sàng:
Không ghi nhận bất thường, hoặc trong cơn đau ngực có thể có âm thổi ở mỏm tim và ran ở phổi hay tiếng tim T3, T4.
Khám lâm sàng giúp xác định các yếu tố nguy cơ tim mạch và chân đoán phân biệt với các nguyên nhân gây đau ngực khác. Các mảng xanthelasma, nêu có là dấu hiệu chi điểm tình trạng rối loạn lipid máu nặng.
Xét nghệm:
- Xét nghiệm thường quy:
- Xét nghiêm máu cơ bản: hemoglobin máu, đường huyêt lúc đói, bilan lipid máu: cholesterol toàn phần, HDL-C, LDL-C,
triglycerit BƯN, creatinin, AST, ALT, FT3, FT4, TSH khi nghi ngờ rối loạn chức năng tuyến giáp, hs-CRP máu có giá trị tiên đoán mạnh các biến cố mạch vành.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ