Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Các biện pháp giảm áp đĩa đệm để điều trị thoái hóa và thoát vị đĩa đệm cột sống

14 phút đọc

PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm, BV103, HVQY

1. Đại cương

1.1. Dinh dưỡng của đĩa đệm cột sống

         

Hình 1Đĩa đệm cột sống thắt lưng. Hình trái: Hình vẽ cắt ngang đĩa đệm và đốt sống nhìn từ trên xuống. Hình phải: Tiêu bản cắt dọc cột sống ở một người trẻ tuổi cho thấy đĩa đệm cột sống thắt lưng bình thường với nhân nhầy ở giữa, vòng sợi trắng mịn bọc bên ngoài. Viền xương dưới sụn thân đốt phẳng đều, các góc lượn cong.

Hình 2. Sơ đồ minh họa đoạn vận động cột sống. Đoạn vận động gồm đĩa đệm và hai nửa thân đốt sống kế cận. Khớp liên mấu nằm trong đoạn vận động và ở phía sau các thân đốt sống, có vai trò như bản lề của đoạn vận động.

Hình 3. Sự dịch chuyển của nhân nhầy đĩa đệm khi vận động cột sống thắt lưng ở các tư thế: đứng thẳng, cúi, ưỡn, nghiêng, xoay.

Không giống với các mô khác của cơ thể, đĩa đệm không có mạch máu nuôi dưỡng mà được nuôi dưỡng bằng dịch thấm từ thân đốt sống qua các vi lỗ của mâm sụn. Lượng dịch trao đổi (thấm vào và thoát ra khỏi đĩa đệm) phụ thuộc vào các yếu tố:

– Lực cơ học tác động lên đĩa đệm làm tăng áp lực thủy tĩnh đẩy nước ra. Áp lực thẩm thấu và áp lực keo của mô xương dưới sụn kéo nước ra.

– Hiệu ứng Gibbs – Donnan kéo nước vào đĩa đệm. Lực đàn hồi của các sợi collagen và elastin trong đĩa đệm làm đĩa đệm căng phồng trở lại có tác dụng hút nước vào đĩa đệm.

– Tính thấm của mâm sụn phụ thuộc vào các vi lỗ của mâm sụn.

– Tình trạng các vi mạch của vùng xương dưới sụn.

Vì áp lực thẩm thấu, áp lực keo giữa đĩa đệm và mô xương dưới sụn chênh lệch rất ít, tính thấm của mâm sụn và vi mạch của mô xương dưới sụn trong điều kiện bình thường thì tương đối hằng định, nên áp lực tác động lên đĩa đệm và lực đàn hồi của các sợi collagen trong đĩa đệm là hai tác nhân chính quyết định dinh dưỡng của đĩa đệm.

Khi đĩa đệm phải chịu lực quá tải kéo dài và lặp đi lặp lại làm cho nuôi dưỡng đĩa đệm giảm. Ngược lại khi lực tác động lên đĩa đệm hợp lý và thời gian tác động ngắn, lặp đi lặp lại có tác dụng như lực bơm hút và đẩy, làm tăng nuôi dưỡng đĩa đệm.

 

Hình 4Mô hình minh họa cơ chế lưu thông dịch nuôi dưỡng đĩa đệm lúc bình thường và khi chịu tải. Hình trái: Áp lực đĩa đệm bình thường, đĩa đệm căng phồng, dịch thấm vào nuôi dưỡng đĩa đệm tốt. Hình giữa: Tải trọng lên đĩa đệm tăng, đĩa đệm bị nén dẹp xuống, dịch thấm vào nuôi dưỡng đĩa đệm kém. Hình phải: biểu đồ nồng độ các chất trong đĩa đệm khi áp lực nội đĩa đệm tăng. Khi áp lực trong đĩa đệm tăng, lượng oxy và glucose giảm, acid lactic tăng trong đĩa đệm.

1.2. Tác dụng của các biện pháp làm giảm áp đĩa đệm

Do tư thế trong sinh hoạt và nhất là lao động, đĩa đệm thường xuyên bị nén ép với áp lực cao và kéo dài, vì vậy dinh dưỡng đĩa đệm luôn nghèo nàn. Theo thời gian, thiểu dưỡng kéo dài sẽ dẫn đến thoái hóa đĩa đệm và thoái hóa đĩa đệm là khởi đầu cho các tổn thương tiếp theo của các cấu trúc khác của cột sống như các khớp liên mấu, thân đốt sống, các dây chằng…

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ