CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA Y HỌC GIẤC NGỦ, ẤN BẢN THỨ 2 (2026)
(Fundamentals of Sleep Medicine, 2nd Edition)
Tác giả: Richard B. Berry, Mary H. Wagner và Scott M. Ryals. Dịch & chú giải: BS. LÊ ĐÌNH SÁNG.
Bản dịch được chia sẻ vì mục đích lan toả tri thức, hoàn toàn phi lợi nhuận. Nghiêm cấm thương mại hoá bản dịch này dưới bất kỳ hình thức nào.
CHƯƠNG 32. CÁC RỐI LOẠN TĂNG NGỦ NGUỒN GỐC TRUNG ƯƠNG
Central disorders of hypersomnolence
Richard B. Berry, MD, FAASM; Mary H. Wagner, MD, FAASM; Scott M. Ryals, MD, FAASM
Fundamentals of Sleep Medicine, Chapter 32, 688-719
GIỚI THIỆU
Nhóm các rối loạn tăng ngủ nguồn gốc trung ương [disorders of hypersomnolence of central origin] là một phần quan trọng trong chẩn đoán phân biệt ở những bệnh nhân có biểu hiện buồn ngủ quá mức ban ngày [excessive daytime sleepiness]. Giới chuyên môn ưu tiên sử dụng thuật ngữ tăng ngủ [hypersomnolence] thay vì chứng ngủ nhiều [hypersomnia] – một khái niệm thực chất mang ý nghĩa là thời gian ngủ kéo dài. Trong số các rối loạn này, hội chứng ngủ không đủ giấc [insufficient sleep syndrome] có lẽ là bệnh lý phổ biến nhất.
Bảng 32-1: Tăng Ngủ Nguồn Gốc Trung Ương [Hypersomnolence Of Central Origin]
| Phân loại |
|---|
| 1. Chứng ngủ rũ Týp I (NT1, thiếu hụt hypocretin) – thường đi kèm chứng mất trương lực cơ* |
| 2. Chứng ngủ rũ Týp II (NT2, nồng độ hypocretin bình thường) – thường không có chứng mất trương lực cơ* |
| 3. Chứng tăng ngủ vô căn (IH) |
| 4. Hội chứng Kleine-Levin (KLS) |
| 5. Chứng tăng ngủ do Bệnh lý Nội khoa (HDMD) |
| 6. Chứng tăng ngủ do Thuốc hoặc Chất (HDMS) |
| 7. Chứng tăng ngủ Liên quan đến Rối loạn Tâm thần (HAMD) |
| 8. Hội chứng Ngủ không đủ giấc |
| 9. Biến thể bình thường – Người ngủ dài [Long Sleeper] |
| (Mức hypocretin-1 trong dịch não tủy thường không có sẵn. Một số bệnh nhân không bộc lộ chứng mất trương lực cơ sau đó được phát hiện có nồng độ hypocretin thấp và được phân loại lại thành NT1.) |
Theo Phân loại Quốc tế về Rối loạn Giấc ngủ phiên bản 2 [International Classification of Sleep Disorders – ICSD-2], chứng ngủ rũ [narcolepsy] từng được chia thành nhóm có và không có chứng mất trương lực cơ [cataplexy] (N+C, N-C). Tình trạng mất trương lực cơ (yếu cơ do cảm xúc kích phát) gần như là triệu chứng đặc hiệu duy nhất của chứng ngủ rũ. Bước sang phiên bản ICSD-3, hệ thống chuyển sang phân loại chứng ngủ rũ dựa trên nồng độ hypocretin-1 trong dịch não tủy [cerebrospinal fluid – CSF] thấp hoặc hoàn toàn vắng mặt (týp 1, NT1) hoặc nồng độ hypocretin-1 bình thường (týp 2, NT2). Hầu hết (nhưng không phải tất cả) bệnh nhân NT1 đều biểu hiện chứng mất trương lực cơ (N+C), và hầu hết (nhưng không phải tất cả) bệnh nhân N-C đều có nồng độ hypocretin bình thường.
Cả hai cách phân loại (N+C, N-C hay NT1, NT2) đều chưa hoàn toàn thỏa đáng bởi lẽ, ở thời điểm hiện tại, chúng ta chỉ có thể xác định sự thiếu hụt hypocretin thông qua xét nghiệm định lượng nồng độ hypocretin-1 dịch não tủy. Tuy nhiên, xét nghiệm này không khả thi đối với phần lớn bệnh nhân. Mặt khác, việc xác định người bệnh có thực sự trải qua các cơn mất trương lực cơ hay không thường rất khó khăn, chưa kể một số bệnh nhân còn có khoảng thời gian trễ giữa lúc khởi phát triệu chứng buồn ngủ ban ngày và lúc xuất hiện chứng mất trương lực cơ. Trong phiên bản ICSD-3-TR, các tiêu chuẩn chẩn đoán cho NT1 đã được thay đổi; theo đó, sự xuất hiện của một thời đoạn giấc ngủ REM lúc khởi phát giấc ngủ [sleep-onset rapid eye movement period – SOREMP] trên kết quả đo đa ký giấc ngủ [polysomnogram – PSG] trước khi thực hiện trắc nghiệm đa thời gian tiềm thời giấc ngủ [multiple sleep latency test – MSLT] có thể đóng vai trò như một tiêu chí PSG/MSLT độc lập để chẩn đoán chứng ngủ rũ.
Trong phiên bản ICSD-2, chứng tăng ngủ vô căn [idiopathic hypersomnia – IH] được chia thành bệnh nhân có và không có thời gian ngủ dài (lớn hơn hoặc nhỏ hơn 10 giờ). Ở phiên bản ICSD-3 và ICSD-3-TR, hệ thống không còn phân loại bệnh nhân IH theo thời gian ngủ nữa. Mặc dù vậy, phân nhóm IH có thời gian ngủ dài vẫn có thể được coi là một phân nhóm phụ của bệnh.
CHỨNG NGỦ RŨ [NARCOLEPSY]
Chứng ngủ rũ là một rối loạn đặc trưng bởi tình trạng buồn ngủ ban ngày quá mức, đi kèm các triệu chứng liên quan đến sự bất thường trong khâu điều hòa trạng thái thức và ngủ. Một thời gian tiềm thời [latency] của giấc ngủ REM ngắn và sự xâm nhập của các đặc tính giấc ngủ REM vào lúc thức là đặc trưng của rối loạn này. Căn nguyên gây ra NT1 (N+C) là sự mất các nơ-ron tiết hypocretin ở vùng dưới đồi bên [lateral hypothalamus], dẫn đến việc đánh mất tác dụng ổn định của hypocretin đối với trạng thái thức và ngủ. Hypocretin 1 (orexin 1) và hypocretin 2 (orexin 2) được mô tả lần đầu vào năm 1998, và mối liên quan giữa sự thiếu hụt hypocretin với chứng ngủ rũ (N+C) được phát hiện chỉ một thời gian ngắn sau đó. Sự thiếu hụt hypocretin được xác nhận bằng cách định lượng nồng độ hypocretin-1 trong dịch não tủy. Quá trình mất hypocretin là hậu quả của việc phá hủy các tế bào sản xuất hypocretin ở vùng dưới đồi bên. Quá trình phá hủy này được cho là diễn ra thông qua cơ chế tự miễn. Tuy nhiên, cho đến nay, các bằng chứng thực nghiệm vẫn chưa hoàn toàn chứng minh được căn nguyên [etiology] này. Rất hiếm khi ghi nhận mức hypocretin dịch não tủy thấp ở các rối loạn thần kinh khác, nhưng sự kết hợp giữa triệu chứng buồn ngủ, nồng độ hypocretin-1 CSF thấp, và kết quả khám thần kinh bình thường sẽ thiết lập chắc chắn chẩn đoán NT1. Ở những bệnh nhân có hoặc không có chứng mất trương lực cơ nhưng không rõ nồng độ hypocretin, bác sĩ sẽ chẩn đoán chứng ngủ rũ dựa trên sự hiện diện hay vắng mặt của chứng mất trương lực cơ và các dấu hiệu trên PSG, theo sau là một bản MSLT ban ngày sử dụng các quy trình chuẩn (xem Chương 17).
Các tiêu chuẩn chẩn đoán cho NT1 bao gồm:
A. Bệnh nhân có các đợt xuất hiện nhu cầu ngủ không thể cưỡng lại hàng ngày, hoặc các đợt lơ mơ/ngủ lịm đi vào ban ngày.
B. Sự hiện diện của một hoặc cả hai yếu tố sau:
- Chứng mất trương lực cơ (điển hình) và một trong hai yếu tố a hoặc b: a. Thời gian tiềm thời giấc ngủ trung bình <= 8 phút và có từ hai SOREMP trở lên trên bản MSLT được thực hiện theo đúng các phác đồ khuyến nghị hiện hành. b. Xuất hiện một SOREMP trong vòng 15 phút kể từ lúc bắt đầu ngủ trên bản PSG ban đêm.
- Nồng độ hypocretin-1 trong dịch não tủy đo bằng phương pháp miễn dịch phóng xạ <= 110 pg/mL (sử dụng mẫu tham chiếu của Đại học Stanford) hoặc < 1/3 giá trị trung bình thu được ở những người bình thường qua cùng một xét nghiệm chuẩn.
C. Các triệu chứng và dấu hiệu không thể được giải thích rõ ràng hơn bởi tình trạng thiếu ngủ mãn tính, rối loạn nhịp sinh học thức-ngủ, một rối loạn giấc ngủ khác, rối loạn tâm thần, hay việc sử dụng/cai thuốc hoặc chất hiện tại.
Chương 17 trình bày chi tiết về quy trình MSLT tiêu chuẩn. Phiên bản ICSD-3-TR quy định rằng bệnh nhân cần ghi nhật ký giấc ngủ [sleep log] trong ít nhất 1 tuần, lý tưởng nhất là kết hợp ghi biểu đồ hoạt động [actigraphy] bất cứ khi nào có thể, trước khi tiến hành kiểm tra giấc ngủ tại phòng thí nghiệm nhằm đánh giá tình trạng thiếu ngủ và các rối loạn nhịp sinh học. Tốt nhất, quá trình theo dõi nên diễn ra trong 2 tuần (bao gồm cả một ngày cuối tuần), nhưng thời gian tối thiểu là 1 tuần. Cần lưu ý rằng các tiêu chuẩn chẩn đoán yêu cầu triệu chứng phải xuất hiện hàng ngày, nhưng không còn chỉ định mốc thời gian kéo dài cụ thể (trước đây yêu cầu ít nhất 3 tháng). Phần dưới sẽ thảo luận về đặc điểm của chứng mất trương lực cơ điển hình. Các tiêu chuẩn mới cho phép bác sĩ chẩn đoán chứng ngủ rũ dựa trên sự kết hợp giữa tình trạng buồn ngủ ban ngày + một SOREMP trên PSG + tiền sử mất trương lực cơ điển hình (với điều kiện đáp ứng tiêu chuẩn C). Tiền sử buồn ngủ ban ngày + chứng mất trương lực cơ điển hình kết hợp với các kết quả MSLT (thời gian tiềm thời giấc ngủ trung bình <= 8 phút và có từ hai SOREMP trở lên) cũng đủ để chẩn đoán NT1 (nếu đáp ứng tiêu chuẩn C). Cuối cùng, một mức hypocretin-1 CSF thấp có thể được sử dụng để chẩn đoán NT1 nếu bệnh nhân có triệu chứng buồn ngủ hàng ngày, dù họ có hoặc không có tiền sử mất trương lực cơ. Điều này vẫn đúng ngay cả khi các kết quả PSG và MSLT không ủng hộ chẩn đoán, hoặc bệnh nhân có các rối loạn giấc ngủ chưa được điều trị khác. Một số bệnh nhân được chẩn đoán NT1 dựa trên mức hypocretin-1 thấp có thể chưa bộc lộ chứng mất trương lực cơ (triệu chứng này thường xuất hiện trong vòng 1 hoặc 2 năm kể từ khi bắt đầu buồn ngủ).
Các tiêu chuẩn chẩn đoán ICSD-3-TR cho NT2 không thay đổi đáng kể so với ICSD-3 và bao gồm:
A. Bệnh nhân có các đợt xuất hiện nhu cầu ngủ không thể cưỡng lại hàng ngày hoặc lơ mơ/ngủ lịm đi vào ban ngày xảy ra trong ít nhất 3 tháng.
B. Thời gian tiềm thời giấc ngủ trung bình <= 8 phút và có từ hai SOREMP trở lên trên bản MSLT thực hiện theo đúng kỹ thuật chuẩn. Một SOREMP (trong vòng 15 phút sau khi bắt đầu ngủ) trên bản PSG ban đêm trước đó có thể thay thế cho một trong các SOREMP trên MSLT.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ