CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA Y HỌC GIẤC NGỦ, ẤN BẢN THỨ 2 (2026)
(Fundamentals of Sleep Medicine, 2nd Edition)
Tác giả: Richard B. Berry, Mary H. Wagner và Scott M. Ryals. Dịch & chú giải: BS. LÊ ĐÌNH SÁNG.
Bản dịch được chia sẻ vì mục đích lan toả tri thức, hoàn toàn phi lợi nhuận. Nghiêm cấm thương mại hoá bản dịch này dưới bất kỳ hình thức nào.
CHƯƠNG 39. Giấc ngủ trong Các rối loạn nội khoa và Thai kỳ
Sleep in medical disorders and pregnancy
Richard B. Berry, MD, FAASM; Mary H. Wagner, MD, FAASM; Scott M. Ryals, MD, FAASM
Fundamentals of Sleep Medicine, Chapter 39, 874-885
GIỚI THIỆU
Chương này đề cập đến vấn đề giấc ngủ trong nhiều bệnh lý nội khoa (medical disorders) khác nhau cũng như trong thời kỳ mang thai. Đối với một số chủ đề, chúng tôi sẽ trình bày ngắn gọn các kiến thức nền tảng có liên quan mật thiết đến giấc ngủ. Tuy nhiên, việc đi sâu vào chi tiết chẩn đoán, quản lý và điều trị đặc hiệu cho từng bệnh lý nằm ngoài phạm vi của chương sách này.
BỆNH TO ĐẦU CHI (ACROMEGALY)
Kiến thức cơ bản và Biểu hiện lâm sàng của Bệnh to đầu chi
Bệnh to đầu chi (Acromegaly) là một rối loạn do sự tăng tiết quá mức hormone tăng trưởng (growth hormone) từ các tế bào hướng thân (somatotrophic cells) ở tuyến yên. Vùng dưới đồi (hypothalamus) điều hòa quá trình bài tiết này bằng cách tiết ra hormone giải phóng hormone tăng trưởng (growth hormone-releasing hormone – GHRH) và somatostatin (hormone ức chế hormone tăng trưởng). Hormone tăng trưởng kích thích gan tổng hợp yếu tố tăng trưởng giống insulin 1 (insulin-like growth factor 1 – IGF-1), từ đó làm trung gian cho các tác dụng đồng hóa của hormone này. Hormone tăng trưởng cũng liên kết trực tiếp với các thụ thể tương ứng trên nhiều cơ quan đích, bao gồm gan, thận, xương, sụn, cơ vân và tế bào mỡ. Hơn 90% người bệnh mắc bệnh to đầu chi có một khối u tuyến yên lành tính tiết hormone tăng trưởng (growth hormone-secreting pituitary adenoma).
Biểu hiện lâm sàng của bệnh to đầu chi rất đa dạng, từ mờ nhạt đến rõ ràng, phụ thuộc vào độ tuổi khởi phát. Các khối u tuyến (adenomas) xuất hiện ở người trẻ thường phát triển nhanh, khởi phát trước khi các sụn tiếp hợp xương đóng lại, dẫn đến sự phát triển quá mức của cơ thể và gây ra hội chứng khổng lồ (gigantism). Ngược lại, các khối u tuyến xuất hiện muộn hơn thường tiến triển chậm, dẫn đến những thay đổi thể chất âm thầm. Các biểu hiện đặc trưng của bệnh to đầu chi bao gồm: tác động chèn ép tại chỗ do phì đại tuyến yên, mô mềm ở bàn tay và bàn chân dày lên (phì đại đầu chi), hội chứng khổng lồ, chứng hàm nhô (prognathism), phì đại xương trán (frontal bone hypertrophy), phì đại các tạng (visceromegaly – bao gồm cả phì đại lưỡi), cùng nhiều tác động hệ thống khác.
Giấc ngủ và Bệnh to đầu chi
Nghiên cứu của Grunstein và cộng sự trên 53 người bệnh to đầu chi cho thấy 81% trường hợp mắc chứng ngưng thở khi ngủ (sleep apnea). Gần như toàn bộ đối tượng nghiên cứu đều có triệu chứng ngủ ngáy. Tăng huyết áp ở người bệnh to đầu chi có mối liên hệ mật thiết với hội chứng ngưng thở khi ngủ. Trong số những người bị ngưng thở khi ngủ, 67% mắc chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (obstructive sleep apnea – OSA) và 33% mắc chứng ngưng thở khi ngủ trung ương (central sleep apnea – CSA). Sự phì đại của đường thở trên và tình trạng sưng nề mô mềm được xem là yếu tố chính gây hẹp tắc đường thở. Người bệnh mắc chứng ngưng thở khi ngủ trung ương có nồng độ IGF-1 và đường huyết trung bình ngẫu nhiên cao hơn, cho thấy tình trạng tăng tiết hormone có liên quan trực tiếp đến cơ chế này. Ngoài ra, sự gia tăng đáp ứng thông khí và nồng độ các nội tiết tố phản ánh hoạt động của bệnh cũng góp phần gây ra ngưng thở khi ngủ trung ương ở nhóm người bệnh này.
Davi và cộng sự đã tiến hành quan sát 36 người bệnh to đầu chi (18 người có bệnh đang hoạt động và 18 người đã kiểm soát được bệnh). Phân tích cho thấy tỷ lệ hiện mắc (prevalence) ngưng thở khi ngủ ở nhóm có bệnh đang hoạt động cao hơn đáng kể so với nhóm chứng (55% so với 39%), với tỷ lệ mắc mới (incidence) chung là 47%. Mức độ nghiêm trọng của chứng ngưng thở khi ngủ cũng thấp hơn ở nhóm chứng. Nhóm tác giả chỉ ra rằng nồng độ IGF-1 cao, giới tính nam, lớn tuổi, chỉ số khối cơ thể (body mass index – BMI) lớn và thời gian mắc bệnh kéo dài là những yếu tố nguy cơ của chứng ngưng thở khi ngủ. Khi theo dõi dọc trên sáu đối tượng, điều trị nhắm vào bệnh to đầu chi giúp cải thiện mức độ nghiêm trọng của ngưng thở khi ngủ ở năm người, nhưng không giải quyết triệt để.
Octreotide, một chất tương tự somatostatin, điều trị bệnh to đầu chi thông qua cơ chế ức chế bài tiết hormone tăng trưởng. Sáu tháng điều trị bằng octreotide đã cải thiện rõ rệt tình trạng ngưng thở khi ngủ ở người bệnh to đầu chi. Các chỉ số như chỉ số rối loạn hô hấp (respiratory disturbance index – RDI), tỷ lệ % tổng thời gian ngưng thở và tình trạng giảm oxy hóa máu đều được cải thiện. Người ta cho rằng octreotide làm giảm ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn bằng cách thu gọn tình trạng sưng nề mô mềm ở đường thở trên. Thêm vào đó, octreotide còn có khả năng cải thiện ngưng thở khi ngủ trung ương bằng cách giảm bớt đáp ứng thông khí quá mức. Các chỉ số hô hấp cải thiện ngay cả khi bệnh chỉ thuyên giảm một phần về mặt hóa sinh, tuy nhiên, chứng ngưng thở khi ngủ vẫn có thể tồn tại kể cả khi nồng độ hormone tăng trưởng đã trở về ngưỡng bình thường.
Rosenow và cộng sự đã nghiên cứu nhóm người bệnh to đầu chi đã được điều trị để xác định tỷ lệ hiện mắc ngưng thở khi ngủ và ghi nhận tỷ lệ mắc mới ít nhất là 21%. Trong nghiên cứu này, người bệnh được theo dõi bằng thiết bị lưu động đo độ bão hòa oxy, nhịp tim, tiếng ngáy và tư thế cơ thể. Sự sụt giảm độ bão hòa oxy > 4% được tính vào chỉ số giảm oxy hóa máu, và ngưng thở khi ngủ được định nghĩa là có > 10 lần giảm oxy hóa máu mỗi giờ, kèm theo ngủ ngáy và xuất hiện hình ảnh răng cưa (sawtooth pattern) trên biểu đồ. Mặc dù vậy, tỷ lệ mắc mới ngưng thở khi ngủ có thể đã bị đánh giá thấp hơn thực tế do một số hạn chế của thiết bị đo lường (ví dụ: không ghi nhận được luồng khí, không xác định được thời gian ngủ thực sự, bỏ qua các biến cố kèm sụt giảm oxy hóa máu 4%, và ngưỡng cắt không khớp với các tiêu chuẩn chẩn đoán Rối loạn nhịp thở khi ngủ (sleep-disordered breathing – SDB) hiện hành).
UNG THƯ (CANCER)
Giấc ngủ và Ung thư
Büttner-Teleagă và cộng sự đã tiến hành tổng quan hệ thống trên 8073 nghiên cứu, sau đó phân tích chuyên sâu 89 tài liệu về chủ đề giấc ngủ và các rối loạn giấc ngủ trong ung thư. Họ phát hiện ra rằng có tới 95% người bệnh ung thư gặp phải tình trạng xáo trộn giấc ngủ hoặc rối loạn giấc ngủ. Các vấn đề này có thể xuất hiện trong quá trình chẩn đoán, điều trị, và thậm chí kéo dài nhiều năm sau đó. Rối loạn giấc ngủ phổ biến nhất ở người bệnh ung thư là mất ngủ (insomnia), tiếp theo là các rối loạn nhịp thở liên quan đến giấc ngủ (sleep-related breathing disorders – SRBDs). Hội chứng chân không yên (restless leg syndrome – RLS), chứng ngủ rũ (narcolepsy) và rối loạn hành vi giấc ngủ có chuyển động mắt nhanh (rapid eye movement sleep behavior disorder – RBD) chiếm tỷ lệ thấp hơn nhiều.
Trước đây, các nghiên cứu về chứng mất ngủ trong ung thư thường có cỡ mẫu nhỏ hoặc chỉ giới hạn ở một loại ung thư cụ thể. Tuy nhiên, những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu dọc với cỡ mẫu lớn và đa dạng các loại ung thư. Savard và cộng sự đã theo dõi tỷ lệ hiện mắc và diễn tiến tự nhiên của chứng mất ngủ đi kèm ở người bệnh ung thư trong suốt 18 tháng. Họ nghiên cứu 962 người bệnh (mắc nhiều loại ung thư khác nhau) chuẩn bị phẫu thuật triệt căn cho lần chẩn đoán ung thư đầu tiên chưa có di căn. Người bệnh được tiếp cận tại phòng khám tiền phẫu, dữ liệu được thu thập tại thời điểm này, sau đó tiếp tục đánh giá vào các tháng thứ 2, 6, 10, 14 và 18 sau phẫu thuật.
Người tham gia được chia thành ba nhóm:
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ