Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA Y HỌC GIẤC NGỦ, ẤN BẢN THỨ 2 (2026). Chương 5. Phân Giai Đoạn Giấc Ngủ Ở Trẻ Nhũ Nhi & Trẻ Em

51 phút đọc

CÁC NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA Y HỌC GIẤC NGỦ, ẤN BẢN THỨ 2 (2026)
(Fundamentals of Sleep Medicine, 2nd Edition)
Tác giả: Richard B. Berry, Mary H. Wagner và Scott M. Ryals.
Dịch & chú giải: THS.BS. LÊ ĐÌNH SÁNG. Xuất bản trực tuyến bởi THƯ VIỆN Y HỌC MEDIPHARM vì mục đích lan toả tri thức, hoàn toàn phi lợi nhuận. NGHIÊM CẤM thương mại hoá bản dịch này dưới bất kỳ hình thức nào.


Chương 5: Phân Giai Đoạn Giấc Ngủ Ở Trẻ Nhũ Nhi Và Trẻ Em

Sleep staging in infants and children
Richard B. Berry, MD, FAASM; Mary H. Wagner, MD, FAASM; Scott M. Ryals, MD, FAASM

Fundamentals of Sleep Medicine, Chapter 5, 70-84


ĐỘ TUỔI ÁP DỤNG CÁC QUY TẮC CHẤM ĐIỂM (SCORING RULES)

Phiên bản hiện tại của sổ tay hướng dẫn chấm điểm giấc ngủ do Viện Hàn lâm Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ (American Academy of Sleep Medicine – AASM) ban hành cung cấp các quy tắc chấm điểm cho trẻ nhũ nhi (từ 0 đến 2 tháng tuổi sau khi đủ tháng, hay chính xác hơn là tuổi sau kỳ kinh cuối từ 37 đến 48 tuần), trẻ nhũ nhi lớn tuổi hơn và trẻ em. Các thuật ngữ về độ tuổi sử dụng cho trẻ nhũ nhi được trình bày trong Bảng 5-1Hình 5-1. Tuổi sau kỳ kinh cuối (postmenstrual age – PMA) hiện nay thay thế cho thuật ngữ tuổi thụ thai (conceptual age). Tuổi thai (gestational age) là khoảng thời gian tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh nguyệt cuối cùng cho đến khi trẻ chào đời (tính bằng số tuần trọn vẹn).

Tuổi sau kỳ kinh cuối (PMA) bằng tuổi thai cộng với thời gian (tính bằng tuần) kể từ khi trẻ ra đời (tuổi thời gian/tuổi thực – chronological age). AASM không cung cấp quy tắc chấm điểm cho trẻ sinh ra có tuổi sau kỳ kinh cuối dưới 37 tuần (trẻ sinh non – premature infants). Sổ tay hướng dẫn chấm điểm của AASM khuyên người đọc tham khảo phần thảo luận trong bài đánh giá của Lực lượng Đặc nhiệm Chấm điểm Nhi khoa (Pediatric Scoring Task Force) thuộc AASM và một bài đánh giá gần đây về giấc ngủ của trẻ nhũ nhi. Các tài liệu tham khảo khác cũng cung cấp những thông tin hữu ích về điện não đồ (electroencephalogram – EEG) ở trẻ sinh non. Chương này sẽ trình bày sơ lược về giấc ngủ của trẻ sinh non nhằm mục đích cung cấp thông tin. Đáng chú ý, hệ thống danh pháp truyền thống về các giai đoạn giấc ngủ ở trẻ nhũ nhi từ 0 đến 2 tháng tuổi sau đủ tháng nay đổi từ Giấc ngủ Yên lặng (Quiet sleep) và Giấc ngủ Động (Active sleep) thành Giấc ngủ Không chuyển động mắt nhanh (Non-Rapid Eye Movement – NREM, giai đoạn N) và Giấc ngủ Chuyển động mắt nhanh (Rapid Eye Movement – REM, giai đoạn R).

Bảng 5-1: Danh pháp Độ tuổi dành cho Trẻ nhũ nhi

Tiêu chí Định nghĩa
Tuổi thai (Gestational age – GA) Thời gian tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối (LMP) cho đến khi sinh (tính bằng số tuần trọn vẹn).

Tại thời điểm sinh, phân loại dựa trên độ tuổi thai (GA):

– Sinh non (Premature): Dưới 37 tuần.

– Đủ tháng (Full term): Từ 37 đến 42 tuần.

– Già tháng (Post-term): Trên 42 tuần.

Tuổi sau kỳ kinh cuối (Postmenstrual age – PMA) Tuổi thai lúc sinh + số tuần sau khi sinh (tuổi thời gian).
Tuổi thời gian (Chronological age) Tuổi sau sinh hoặc tuổi pháp lý: Khoảng thời gian kể từ khi sinh ra (tính bằng tuần, tháng, năm).

– Trẻ sơ sinh (Neonate): Từ 0 đến 28 ngày sau sinh.

– Trẻ nhũ nhi (Infant): Từ 1 đến 12 tháng tuổi (sau sinh).

(LMP: Kỳ kinh nguyệt cuối cùng – Last menstrual period)

Hình 5-1: Sơ đồ các định nghĩa tuổi khác nhau đối với trẻ sơ sinh.

GIẤC NGỦ Ở TRẺ SINH NON

Giấc ngủ ở trẻ sinh non khác biệt so với trẻ đủ tháng (tuổi sau kỳ kinh cuối PMA từ 37 đến 48 tuần) và thay đổi đáng kể khi trẻ lớn dần. Hình 5-2 minh họa thời điểm xuất hiện các mẫu điện não đồ (EEG) khác nhau đặc trưng cho từng giai đoạn giấc ngủ. Mẫu sóng gián đoạn (trace discontinue – TD) (Hình 5-3) là mẫu điện não đồ không liên tục ở trẻ sinh non, đặc trưng bởi các chu kỳ giảm sút nghiêm trọng hoạt động điện não kéo dài từ 10 đến 20 giây hoặc lâu hơn, xen kẽ với các đợt bùng phát ngắn của hoạt động điện thế cao. Trước 30 tuần tuổi thai, mẫu sóng gián đoạn (TD) là mẫu điện não đồ liên quan đến cả Trạng thái Thức (Wake), Giai đoạn N và Giai đoạn R (REM). Do đó, ở trẻ dưới 30 tuần tuổi, người đánh giá phải sử dụng biểu hiện lâm sàng của trẻ để phân biệt giữa thức và ngủ. Các mẫu điện não đồ trưởng thành hơn sẽ dần thay thế mẫu sóng gián đoạn như minh họa trong Hình 5-2. Phần sau sẽ thảo luận chi tiết về các mẫu điện não đồ của trẻ đủ tháng. Thậm chí ở trẻ đủ tháng, việc quan sát hành vi vẫn là yếu tố thiết yếu để phân giai đoạn giấc ngủ vì một mẫu điện não đồ nhất định có thể xuất hiện trong nhiều hơn một giai đoạn giấc ngủ. Thêm vào đó, tất cả các dạng sóng thông thường dùng để chấm điểm giấc ngủ (như thoi ngủ – sleep spindles, phức hợp K – K complexes, và sóng chậm – slow waves) có thể chưa xuất hiện cho đến khi trẻ được 6 tháng tuổi. Bảng 5-2 trình bày thời điểm bắt đầu xuất hiện của một số dạng sóng dùng để phân giai đoạn giấc ngủ.

Hình 5-2: Sự xuất hiện của các mẫu điện não đồ khác nhau theo tuổi sau kỳ kinh cuối (PMA) tính bằng tuần. Lưu ý rằng mẫu sóng gián đoạn (TD) xuất hiện ở tất cả các giai đoạn giấc ngủ trước 30 tuần tuổi PMA. Trước thời điểm này, bác sĩ chỉ có thể phân biệt giữa thức và ngủ dựa trên biểu hiện lâm sàng của em bé, và rất khó để phân biệt các giai đoạn giấc ngủ cụ thể. Mẫu nền liên tục được tô màu nhạt nhằm nhấn mạnh các giai đoạn xuất hiện hoạt động liên tục. (HVS: Điện thế cao chậm – High-voltage sleep; LVI: Điện thế thấp không đều – low-voltage irregular; M: Mẫu hỗn hợp – mixed pattern; TA: Sóng luân phiên – trace alternant; TD: Sóng gián đoạn – trace discontinue). (Nguồn: Trích từ Libenson MH. Practical Approach to Electroencephalography, Elsevier Saunders; 2010:321).

Hình 5-3: Mẫu sóng gián đoạn (TD). Các đợt bùng phát hoạt động điện thế cao luân phiên với các khoảng thời gian dài hoạt động điện não đồ (EEG) phẳng. Danh pháp điện cực như sau: Fp1 là cực trán trái, T7 là thái dương trái, C3 là trung tâm trái, Fp2 là cực trán phải, T8 là thái dương phải, Cz là đỉnh đầu (vertex), và C4 là trung tâm phải. Thêm thông tin chi tiết về vị trí điện cực xem tại Chương 1 và 35. Ở trẻ sinh non trước 30 tuần tuổi sau kỳ kinh cuối, mẫu sóng gián đoạn xuất hiện trong lúc thức, giấc ngủ giai đoạn N và giai đoạn R. (Nguồn: Trích từ Libenson MH. Practical Approach to Electroencephalography. Elsevier Saunders; 2010:320).

Bảng 5-2: Độ tuổi Xuất hiện của Các Dạng sóng

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ