PT là xét nghiệm cơ bản để theo dõi các chất kháng vitamin K đường uống như warfarin, phenidione (xem phần INR)
PT có thể xem như một test sàng lọc kháng đông lupus (LA – Lupus anticoagulants) (xem phần Test ức chế thromboplastin của mô). Tuy nhiên, nhìn chung PT tương đối không nhạy với LA vì nồng độ cao PL trong xét nghiệm sẽ trung hòa kháng thể kháng PL.
PT là nền tảng cho phương pháp xét nghiệm 1 giai đoạn, được dùng để xác định các yếu tố VII, V, X, II. PT tương đối không nhạy với suy giảm nhẹ các yếu tố.
Một số biến thể của FVII (FVII Padua, FVII Yamomoto) có thể đưa ra các giá trị FVII khác nhau, phụ thuộc vào nguồn cung cấp TF (xem phần xét nghiệm FVII)
Một PT bình thường không loại trừ được một bất thường đông máu đáng kể, vì PT bình thường trong cả hemophilia A, B nặng hoặc suy giảm FXI nặng.
Mối quan hệ giữa PT và suy giảm yếu tố là không tuyến tính, nhưng nó sẽ kéo dài theo hàm mũ ở nồng độ yếu tố thấp hơn.
PT ngắn lại được thấy ở nhiều bệnh nhân sử dụng rVIIa (NovoSeven)
Trong lịch sử, PT cũng được thực hiện bằng cách sử dụng nọc độc rắn Russel viper pha loãng (dRVV – tham khảo thêm ở phần xét nghiệm kháng đông lupus) thay cho nguồn TF từ não. Một RVV-PT bình thường nhưng “Brain” PT kéo dài, chỉ ra suy giảm yếu tố VII.
PT sẽ kéo dài với các thuốc ức chế trực tiếp Xa và IIa đường uống mới.
Chỉ số prothrombin (PI – Prothrombin Index) được tính từ PT chứng/PT bệnh nhân x 100.
Phương pháp Owren để đo PT đã được pha loãng trước khi ước tính, thể tích mẫu trong phản ứng hỗn hợp cuối cùng là 5%.
GIỚI THIỆU
PT được giới thiệu bởi Quick năm 1935 và thường được gọi là “thời gian Prothrombin của
Quick”. PT đã được phát triển để đo Prothrombin (yếu tố II) và do đó trở thành tên gọi cho test. Tuy nhiên, sau này rõ ràng nó nhạy với bất thường các yếu tố II, V, VII, X và Fibrinogen.
PT khác với APTT, nó đo hoạt tính con đường đông máu ngoại sinh và con đường chung. Việc phân chia dòng thác đông máu thành ngoại sinh, nội sinh, và con đường chung là cổ điển và ít có giá trị trong in vivo, tuy nhiên nó vẫn hữu ích khi diễn giải các kết quả xét nghiệm ở LABO.
PT là test 1 giai đoạn (One-stage) dựa trên thời gian cần cho cục fibrin tạo thành sau khi thêm yếu tố mô TF (trước đây gọi là tissue thromboplastin), phospholiplid, calcium để phục hồi calci, huyết tương nghèo tiểu cầu.
Thuật ngữ Thromboplastin có nguồn gốc dùng để mô tả một cơ chất trong huyết tương giúp chuyển prothrombin thành thrombin. Trong quá khứ, thromboplastin được chiết xuất từ não hoặc những cơ quan khác và những bộ phận này chứa số lượng lớn yếu tố mô TF và phospholipid (PL). TF có tính đặc hiệu loài, hầu hết LABO hiện nay sử dụng TF người tái tổ hợp với ISI gần 1 và tách khỏi nguồn cung chung với PL. Thromboplastin động vật được chiết xuất từ não thỏ.
TF trong lịch sử được xem là yếu tố III khi danh pháp protein đông máu tạo ra.
NGUYÊN LÝ
PT đo hoạt tính đông máu của con đường ngoại sinh và con đường chung, vì vậy nó phụ thuộc vào hoạt tính chức năng của các yếu tố VII, X, V, II và Fibrinogen. Sơ đồ sau cho thấy dòng thác đông máu và các yếu tố ảnh hưởng lên PT.

PHƯƠNG PHÁP
Huyết tương nghèo tiểu cầu (PPP) được trộn với TF (có chứa phospholipid) ở 37 độ C và cho dư lượng calcium chloride (25mM) vào để khởi động quá trình đông máu. Trong kỹ thuật làm bằng tay, khi calcium được đưa vào, một đồng hồ bấm giây được bấm và dừng khi cục máu đông tạo thành. Thời gian PT được tính từ khi cho calcium vào đến khi tạo thành cục đông fibrin (fibrin clot). Trong các hệ thống tự động, sự tạo thành cục đông được xác định một cách tự động nhưng nguyên lý vẫn như vậy.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ