Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. CHƯƠNG 48. VIÊM PHỔI

74 phút đọc

Cẩm nang Chăm sóc tích cực của OH, ấn bản thứ 9, 2026. Chủ biên: Jonathan M. Handy, Bala Venkatesh. (C) 2026 NXB ELSEVIER.
Dịch và chú giải: THS.BS LÊ ĐÌNH SÁNG, TS.BS. LÊ NHẬT HUY. Cuốn sách này được dịch và xuất bản trực tuyến vì mục đích học thuật, phi lợi nhuận, duy nhất trên các nền tảng yhoclamsang.net & sachyhoc.com của THƯ VIỆN MEDIPHARM. Bản quyền thuộc về Nhà xuất bản ELSEVIER và các tác giả.


CHƯƠNG 48. VIÊM PHỔI

Pneumonia
Wai Tat Wong; Eunise WS Ho; Lowell Ling
Oh’s Intensive Care Manual, 48, 589-604

Các thách thức và nguyên tắc chính trong quản lý viêm phổi bao gồm:

– Viêm phổi có liên quan đến nhiều đặc điểm lâm sàng phần lớn không đặc hiệu.

– Hơn 100 loại mầm bệnh có thể gây ra viêm phổi.

– Các đặc điểm lâm sàng đơn thuần hiếm khi đủ để xác định chính xác mầm bệnh nhằm hướng dẫn phác đồ kháng sinh ban đầu; do đó, việc điều trị theo kinh nghiệm sớm (early empirical treatment) được đặc biệt khuyến cáo.

– Mặc dù kháng sinh thích hợp là yếu tố thiết yếu để tiêu diệt vi khuẩn, nhưng hiện chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu cho một số mầm bệnh như virus, lúc này chăm sóc hỗ trợ (supportive care) đóng vai trò then chốt.

– Do thường thiếu kết quả vi sinh xác định bệnh, việc đánh giá đáp ứng lâm sàng đối với liệu pháp kháng sinh theo kinh nghiệm là vô cùng quan trọng.

Chẩn đoán và điều trị viêm phổi thường mang lại nhiều thách thức. Việc lựa chọn liệu pháp kháng sinh theo kinh nghiệm (empirical antimicrobial therapy) ban đầu nên dựa trên tiền sử bệnh, dịch tễ học tại địa phương của các mầm bệnh đường hô hấp, gánh nặng kháng thuốc và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Bác sĩ cần tiến hành lấy mẫu nuôi cấy và xét nghiệm vi sinh để định danh mầm bệnh, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuống thang (de-escalation) các thuốc kháng sinh phổ rộng theo kinh nghiệm ban đầu. Nếu người bệnh đáp ứng lâm sàng kém với liệu pháp kháng sinh, cần xem xét các biến chứng của viêm phổi cũng như chẩn đoán phân biệt với các nguyên nhân suy hô hấp không do nhiễm trùng (non-infective causes of respiratory failure).

VIÊM PHỔI MẮC PHẢI TẠI CỘNG ĐỒNG

Các hướng dẫn dựa trên bằng chứng về việc quản lý viêm phổi mắc phải tại cộng đồng (community-acquired pneumonia – CAP) đã được ban hành bởi Viện Y tế và Chăm sóc Quốc gia Anh (National Institute for Health and Care Excellence – NICE), Hội Lồng ngực Anh (British Thoracic Society – BTS), Hội Lồng ngực Mỹ (American Thoracic Society – ATS), Hội Hô hấp Châu Âu (European Respiratory Society – ERS), Hội Y học Chăm sóc Tích cực Châu Âu (European Society of Intensive Care Medicine – ESICM), Hội Vi sinh Lâm sàng và Bệnh truyền nhiễm Châu Âu (European Society of Clinical Microbiology and Infectious Diseases – ESCMID), và Hiệp hội Lồng ngực Mỹ Latinh (Latin American Thoracic Association – ALAT).

Định Nghĩa

Viêm phổi mắc phải tại cộng đồng (CAP) là tình trạng nhiễm trùng cấp tính tại nhu mô phổi (pulmonary parenchyma) liên quan đến các triệu chứng nhiễm trùng toàn thân cấp tính hoặc triệu chứng hô hấp, kèm theo tổn thương thâm nhiễm mới (new infiltrates) trên hình ảnh học hoặc các dấu hiệu lâm sàng phù hợp với viêm phổi (ví dụ: thay đổi âm phế bào và rale nổ khu trú) ở người bệnh không nhập viện trước khi khởi phát triệu chứng.

Tỷ lệ mắc bệnh chung dao động từ 3 đến 40 ca/1000 dân mỗi năm, trong đó 40%-60% người bệnh cần nhập viện. Nhìn chung, khoảng 5%-10% người bệnh được chuyển vào Khoa Chăm sóc Tích cực (Intensive Care Unit – ICU). Tỷ lệ tử vong tổng thể của người bệnh nhập viện xấp xỉ 10%.

Căn Nguyên

Đặc điểm dịch tễ của các mầm bệnh đã thay đổi theo thời gian, một phần nhờ vào sự sẵn có của các xét nghiệm sinh học phân tử (molecular tests) hiện đại. Bảng 48.1 liệt kê các tác nhân gây bệnh có khả năng dựa trên manh mối dịch tễ học. Phế cầu khuẩn (Streptococcus pneumoniae) là vi khuẩn phổ biến nhất được phân lập trong viêm phổi mắc phải tại cộng đồng mức độ nặng, tiếp theo là Tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), Trực khuẩn Haemophilus (Haemophilus influenzae), Trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa), các chủng Legionella, Trực khuẩn đường ruột (Escherichia Coli) và Klebsiella pneumoniae. Các mầm bệnh do virus thường gặp bao gồm virus cúm (influenza), virus hợp bào hô hấp (respiratory syncytial virus) và á cúm (parainfluenza), chiếm tới 25% số người bệnh nhập viện vì viêm phổi. Tình trạng đồng nhiễm vi khuẩn và virus (bacterial viral co-infection) không phổ biến nhưng có tỷ lệ tử vong cao hơn hẳn so với viêm phổi đơn thuần do virus.

Biểu Hiện Lâm Sàng

Viêm phổi gây ra cả biểu hiện toàn thân và hô hấp. Các dấu hiệu lâm sàng thường gặp bao gồm sốt, vã mồ hôi, rét run, ho, khạc đờm, đau ngực kiểu màng phổi (pleuritic chest pain), khó thở, thở nhanh, tiếng cọ màng phổi (pleural rub) và rale nổ thì hít vào (inspiratory crackles). Các dấu hiệu kinh điển của hội chứng đông đặc phổi (consolidation) xuất hiện ở dưới 25% số ca bệnh. Tình trạng rối loạn chức năng hoặc suy đa tạng (multiorgan dysfunction or failure) có thể xảy ra tùy thuộc vào phân loại và mức độ nghiêm trọng của bệnh.

Quá trình chẩn đoán viêm phổi có thể phức tạp hơn ở người cao tuổi. Mặc dù đại đa số người bệnh cao tuổi mắc viêm phổi đều có các triệu chứng và dấu hiệu hô hấp, nhưng hơn 50% có thể kèm theo các triệu chứng ngoài hô hấp, đặc biệt là tình trạng thay đổi ý thức (altered mental state), và hơn một phần ba không hề bị sốt như một dấu hiệu nhiễm trùng toàn thân điển hình.

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

×

ĐĂNG NHẬP

Quên mật khẩu?
BẠN CHƯA CÓ TÀI KHOẢN THÀNH VIÊN? ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY →
Exit mobile version
Trang Chủ