Y HỌC LÂM SÀNGMang tinh hoa Y học đến giường bệnh
Nội khoa BẢN ĐỌC THỬ

Cẩm nang điều trị Sốt xuất huyết Dengue – Bộ Y tế

180 phút đọc

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Alb Albumin  
aPTT activated Partial Thromboplastin Time Thời gian đông máu nội sinh
ARDS Acute respiratory distress syndrome Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển
AST Aspartate aminotransferase  
ALT Alanine aminotransferase  
BC Bạch cầu  
BQ Bàng quang  
BUN Blood urea nitrogen Lượng nitơ ure có trong máu
BYT Bộ Y tế  
CN Cân nặng  
CPT Cao phân tử  
Cre Creatinine  
CRP C-reactive protein  
CRRT Continuous renal replacement therapies Liệu pháp thay thế thận liên tục
CRT Capillary refill time Thời gian đổ đầy mao mạch
CVP Central venous pressure Áp lực tĩnh mạch trung tâm
D40 Dextran 40  
D70 Dextran 70  
FiO2 Fraction of inspired oxygen Nồng độ phân suất oxy trong khí hít vào
HA Huyết áp  
HAĐMXL Huyết áp động mạch xâm lấn  
HCL Hồng cầu lắng  
Hct Hematocrit  
HES Hydroxyethyl starch  
KMĐM Khí máu động mạch  
M Mạch  
MAT Microscopic agglutination test Xét nghiệm ngưng kết vi thể
NCPAP Nasal Continous positive airway pressure Thở áp lực dương liên tục qua mũi
PEEP Positive end-expiratory pressure Áp lực dương cuối kỳ thở ra
PT Prothombin time Thời gian đông máu ngoại sinh
RL Ringer lactate  
RLĐM Rối loạn đông máu  
SpO2 Oxygen saturation Độ bão hòa oxy trong máu
SXHD Sốt xuất huyết Dengue  
TC Tiểu cầu  
TM Tĩnh mạch  
TMC Tĩnh mạch chậm  
TMTT Tĩnh mạch trung tâm  
TPTTBM Tổng phân tích tế bào máu  
TTHT Thể tích huyết tương  
TTM Truyền tĩnh mạch  
XH Xuất huyết  
XHTH Xuất huyết tiêu hóa  

ĐẠI CƯƠNG

Vi rút Dengue có thể gây ra nhiễm trùng có triệu chứng lâm sàng hoặc chỉ chuyển đổi huyết thanh (seroconversion) mà không có triệu chứng lâm sàng [1, 2]. Nhiễm vi rút Dengue có triệu chứng có những bệnh cảnh lâm sàng phong phú gồm những biểu hiện lâm sàng dạng nặng và những biểu hiện lâm sàng dạng không nặng. Sau giai đoạn ủ bệnh, bệnh đột ngột khởi phát và trải qua ba giai đoạn: giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục ở những người bệnh bị SXHD trung bình và nặng. Triệu chứng nặng của bệnh thường rõ ràng trong khoảng thời gian người bệnh hết sốt tức là lúc chuyển từ giai đoạn sốt sang giai đoạn nguy hiểm.

Bệnh SXHD phức tạp về mặt biểu hiện lâm sàng nhưng việc điều trị tương đối đơn giản, không gây nhiều tốn kém và rất hiệu quả trong việc cứu sống người bệnh nếu được can thiệp điều trị đúng và kịp thời [3]. Chìa khóa cho sự điều trị thành công người bệnh SXHD là hiểu biết rõ và chú ý các vấn đề lâm sàng xảy ra trong các giai đoạn khác nhau của bệnh để có chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời và chăm sóc thích hợp [4-6].

DỊCH TỄ

Tình hình mắc bệnh SXHD tại Việt Nam qua các năm

Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm gây dịch do vi rút Dengue gây nên. Bệnh hiện nay vẫn đang là vấn đề y tế công cộng mang tính toàn cầu và được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đánh giá là một trong những bệnh do véc tơ truyền quan trọng nhất.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh SXHD đang diễn biến phức tạp, gia tăng về phạm vi và số lượng người mắc bệnh qua từng năm tại nhiều quốc gia [1, 2]. Hiện bệnh lưu hành tại 128 quốc gia với hơn 3,9 tỷ người sống trong vùng nguy cơ bị mắc bệnh [7]. Các đợt dịch SXHD đáng quan tâm nhất gần đây thường xảy ra ở khu vực Đông Nam Á, châu Mỹ Latinh và Tây Thái Bình Dương. Mỗi năm ước tính trên toàn thế giới có khoảng 390 triệu trường hợp nhiễm vi rút Dengue, trong số này có khoảng 500.000 trường hợp phát triển thành thể nặng và ước tính có trên 25.000 trường hợp tử vong mỗi năm trên toàn thế giới [7].

Tại Việt Nam, bệnh SXHD có tỉ lệ mắc trên/100.000 dân là 56,7, thấp hơn so với một số nước và trung bình tỉ lệ tử vong/số trường hợp mắc là 0,029%, thấp nhất so với các quốc gia trong khu vực [8]. Bệnh lưu hành ở hầu hết các tỉnh, thành phố, nhưng tập trung chủ yếu tại các tỉnh miền Nam và miền Trung. Giai đoạn từ 1980 – 1999, trung bình mỗi năm ghi nhận 100.000 trường hợp mắc, 300 – 400 trường hợp tử vong, tỉ lệ tử vong trung bình từ 0,08-0,09%. Trong đó có năm bùng phát với số mắc trên 300.000 trường hợp (năm 1987), trên 1.500 trường hợp tử vong (năm 1983, 1987). Giai đoạn từ 2000 – 2015 (có Chương trình mục tiêu quốc gia) tình hình dịch đã giảm, trung bình mỗi năm ghi nhận khoảng 50.000 đến 100.000 trường hợp mắc, gần 100 trường hợp tử vong (số liệu của Cục Y tế dự phòng BYT). Những năm gần đây có khoảng 20-30 trường hợp tử vong hàng năm [8].

Tại Việt Nam, SXHD xảy ra quanh năm, cao điểm là vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10 ở miền Bắc và tháng 6 đến tháng 12 ở miền Nam). Bệnh gặp ở cả trẻ em và người lớn. Ở Việt Nam, tỉ lệ người trên 15 tuổi mắc SXHD tại các tỉnh phía Nam đã tăng từ 35% năm 1999 lên đến 60% năm 2017 [9].

Hình 1. Tình hình mắc SXHD và tử vong của Việt Nam từ 2008-2017 [9]

 

Hình 2. Tỉ lệ phần trăm chết/mắc SXHD của Việt Nam 2008 – 2017 [8]

Đặc điểm của SXHD là sốt, xuất huyết (XH) và thoát huyết tương, có thể dẫn đến sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối loạn đông máu, suy tạng, nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong.

🔒

Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung

Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.

Chưa có tài khoản? Chọn đăng ký để thanh toán và nhận thông tin đăng nhập qua email.
Hỗ trợ: Hotline 0888.016.016

ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN

Tiếp tục với tài khoản của bạn

Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

Gửi bình luận

Trang Chủ