DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
| Alb | Albumin | |
| aPTT | activated Partial Thromboplastin Time | Thời gian đông máu nội sinh |
| ARDS | Acute respiratory distress syndrome | Hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển |
| AST | Aspartate aminotransferase | |
| ALT | Alanine aminotransferase | |
| BC | Bạch cầu | |
| BQ | Bàng quang | |
| BUN | Blood urea nitrogen | Lượng nitơ ure có trong máu |
| BYT | Bộ Y tế | |
| CN | Cân nặng | |
| CPT | Cao phân tử | |
| Cre | Creatinine | |
| CRP | C-reactive protein | |
| CRRT | Continuous renal replacement therapies | Liệu pháp thay thế thận liên tục |
| CRT | Capillary refill time | Thời gian đổ đầy mao mạch |
| CVP | Central venous pressure | Áp lực tĩnh mạch trung tâm |
| D40 | Dextran 40 | |
| D70 | Dextran 70 | |
| FiO2 | Fraction of inspired oxygen | Nồng độ phân suất oxy trong khí hít vào |
| HA | Huyết áp | |
| HAĐMXL | Huyết áp động mạch xâm lấn | |
| HCL | Hồng cầu lắng | |
| Hct | Hematocrit | |
| HES | Hydroxyethyl starch | |
| KMĐM | Khí máu động mạch | |
| M | Mạch | |
| MAT | Microscopic agglutination test | Xét nghiệm ngưng kết vi thể |
| NCPAP | Nasal Continous positive airway pressure | Thở áp lực dương liên tục qua mũi |
| PEEP | Positive end-expiratory pressure | Áp lực dương cuối kỳ thở ra |
| PT | Prothombin time | Thời gian đông máu ngoại sinh |
| RL | Ringer lactate | |
| RLĐM | Rối loạn đông máu | |
| SpO2 | Oxygen saturation | Độ bão hòa oxy trong máu |
| SXHD | Sốt xuất huyết Dengue | |
| TC | Tiểu cầu | |
| TM | Tĩnh mạch | |
| TMC | Tĩnh mạch chậm | |
| TMTT | Tĩnh mạch trung tâm | |
| TPTTBM | Tổng phân tích tế bào máu | |
| TTHT | Thể tích huyết tương | |
| TTM | Truyền tĩnh mạch | |
| XH | Xuất huyết | |
| XHTH | Xuất huyết tiêu hóa |
ĐẠI CƯƠNG
Vi rút Dengue có thể gây ra nhiễm trùng có triệu chứng lâm sàng hoặc chỉ chuyển đổi huyết thanh (seroconversion) mà không có triệu chứng lâm sàng [1, 2]. Nhiễm vi rút Dengue có triệu chứng có những bệnh cảnh lâm sàng phong phú gồm những biểu hiện lâm sàng dạng nặng và những biểu hiện lâm sàng dạng không nặng. Sau giai đoạn ủ bệnh, bệnh đột ngột khởi phát và trải qua ba giai đoạn: giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục ở những người bệnh bị SXHD trung bình và nặng. Triệu chứng nặng của bệnh thường rõ ràng trong khoảng thời gian người bệnh hết sốt tức là lúc chuyển từ giai đoạn sốt sang giai đoạn nguy hiểm.
Bệnh SXHD phức tạp về mặt biểu hiện lâm sàng nhưng việc điều trị tương đối đơn giản, không gây nhiều tốn kém và rất hiệu quả trong việc cứu sống người bệnh nếu được can thiệp điều trị đúng và kịp thời [3]. Chìa khóa cho sự điều trị thành công người bệnh SXHD là hiểu biết rõ và chú ý các vấn đề lâm sàng xảy ra trong các giai đoạn khác nhau của bệnh để có chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời và chăm sóc thích hợp [4-6].
DỊCH TỄ
Tình hình mắc bệnh SXHD tại Việt Nam qua các năm
Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm gây dịch do vi rút Dengue gây nên. Bệnh hiện nay vẫn đang là vấn đề y tế công cộng mang tính toàn cầu và được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đánh giá là một trong những bệnh do véc tơ truyền quan trọng nhất.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, bệnh SXHD đang diễn biến phức tạp, gia tăng về phạm vi và số lượng người mắc bệnh qua từng năm tại nhiều quốc gia [1, 2]. Hiện bệnh lưu hành tại 128 quốc gia với hơn 3,9 tỷ người sống trong vùng nguy cơ bị mắc bệnh [7]. Các đợt dịch SXHD đáng quan tâm nhất gần đây thường xảy ra ở khu vực Đông Nam Á, châu Mỹ Latinh và Tây Thái Bình Dương. Mỗi năm ước tính trên toàn thế giới có khoảng 390 triệu trường hợp nhiễm vi rút Dengue, trong số này có khoảng 500.000 trường hợp phát triển thành thể nặng và ước tính có trên 25.000 trường hợp tử vong mỗi năm trên toàn thế giới [7].
Tại Việt Nam, bệnh SXHD có tỉ lệ mắc trên/100.000 dân là 56,7, thấp hơn so với một số nước và trung bình tỉ lệ tử vong/số trường hợp mắc là 0,029%, thấp nhất so với các quốc gia trong khu vực [8]. Bệnh lưu hành ở hầu hết các tỉnh, thành phố, nhưng tập trung chủ yếu tại các tỉnh miền Nam và miền Trung. Giai đoạn từ 1980 – 1999, trung bình mỗi năm ghi nhận 100.000 trường hợp mắc, 300 – 400 trường hợp tử vong, tỉ lệ tử vong trung bình từ 0,08-0,09%. Trong đó có năm bùng phát với số mắc trên 300.000 trường hợp (năm 1987), trên 1.500 trường hợp tử vong (năm 1983, 1987). Giai đoạn từ 2000 – 2015 (có Chương trình mục tiêu quốc gia) tình hình dịch đã giảm, trung bình mỗi năm ghi nhận khoảng 50.000 đến 100.000 trường hợp mắc, gần 100 trường hợp tử vong (số liệu của Cục Y tế dự phòng BYT). Những năm gần đây có khoảng 20-30 trường hợp tử vong hàng năm [8].
Tại Việt Nam, SXHD xảy ra quanh năm, cao điểm là vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10 ở miền Bắc và tháng 6 đến tháng 12 ở miền Nam). Bệnh gặp ở cả trẻ em và người lớn. Ở Việt Nam, tỉ lệ người trên 15 tuổi mắc SXHD tại các tỉnh phía Nam đã tăng từ 35% năm 1999 lên đến 60% năm 2017 [9].
Hình 1. Tình hình mắc SXHD và tử vong của Việt Nam từ 2008-2017 [9]
Hình 2. Tỉ lệ phần trăm chết/mắc SXHD của Việt Nam 2008 – 2017 [8]
Đặc điểm của SXHD là sốt, xuất huyết (XH) và thoát huyết tương, có thể dẫn đến sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối loạn đông máu, suy tạng, nếu không được chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời dễ dẫn đến tử vong.
Vui lòng đăng nhập để xem toàn bộ nội dung
Tài khoản thành viên cho phép tiếp cận đầy đủ mọi nội dung sẵn có trên website yhoclamsang.net, "Uptodate phiên bản tiếng Việt" cập nhật 24/7, sẵn sàng mọi lúc, mọi nơi.
ĐĂNG NHẬP THÀNH VIÊN
Tiếp tục với tài khoản của bạn
Chỉ cần đăng nhập để tiếp tục đọc đầy đủ bài viết.

ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ
ĐỌC THỬ